Trong thảo luận, đa số đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành Luật Thủy lợi, qua đó thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong công tác thủy lợi là “xây dựng các công trình thủy lợi đa mục tiêu, nâng cao năng lực tưới tiêu chủ động cho các loại cây trồng; xây dựng thêm hồ chứa nước ở vùng thường xuyên bị khô hạn, hệ thống đê sông, đê biển...” và định hướng phát triển hạ tầng thủy lợi nước ta đến năm 2020. Mặt khác, việc ban hành luật cũng thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước về phát triển thủy lợi thích ứng phó với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra về quản lý và phát triển thủy lợi trong tình hình hiện nay. Bên cạnh đó, trước quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và gia tăng dân số cũng như kinh tế-xã hội phát triển thì yêu cầu về cấp nước, tiêu nước càng trở nên cấp thiết. Các đại biểu tán thành việc phát triển thủy lợi là phát triển công trình hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, cấp nước cho dân sinh và các ngành kinh tế khác; tiêu nước, chống ngập lụt, góp phần phòng, chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, góp phần phát triển bền vững kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên, các đại biểu đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu làm rõ giới hạn phạm vi điều chỉnh của Luật để bảo đảm việc quản lý được toàn diện, chặt chẽ, thống nhất, không chồng chéo với các luật đã ban hành. Đối với quy định về yêu cầu trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, một số ý kiến đề nghị ban soạn thảo cần nghiên cứu, rà soát lại các quy định trong các Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng, nhằm tránh chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất trong Luật; đồng thời, nghiên cứu, bổ sung quy định về yêu cầu đầu tư xây dựng công trình thủy lợi cho hợp lý. 

Đại biểu Phạm Văn Tuân (Thái Bình) cho rằng, ban soạn thảo cần nghiên cứu, bổ sung quy định về yêu cầu đầu tư xây dựng công trình thủy lợi cho hợp lý, đặc biệt là những công trình thủy lợi có phạm vi ảnh hưởng lớn, như hồ chứa, cống ngăn mặn, trữ nước ngọt, công trình phục vụ cho việc phá lũ và đê điều, điều tiết nước mặn, nước ngọt để phục vụ sản xuất, nuôi trồng thủy sản; xác định rõ thẩm quyền, trình tự thủ tục phê duyệt dự án đầu tư đối với công trình thủy lợi lớn; tiêu chí phân loại các công trình thủy lợi vừa và nhỏ, công trình khó huy động các nguồn lực xã hội...

leftcenterrightdel
Đại biểu Nguyễn Lâm Thành phát biểu thảo luận. Ảnh: quochoi.vn.

Còn đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) cho rằng, trên thực tế, nhiều công trình thủy điện, thủy lợi đang thực hiện chức năng kết hợp, do đó, dự thảo luật cũng cần bổ sung thêm các điều khoản quy định hoạt động của các công trình thủy điện kết hợp thủy lợi để bao quát hết các chuyển động liên quan đến hoạt động thủy lợi. Lấy dẫn chứng trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp các công trình thủy lợi có đầu tư lớn, nhưng công suất hữu dụng không bảo đảm, đại biểu tỉnh Lạng Sơn đề nghị, để tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động thủy lợi cần bổ sung thêm các trường hợp liên quan đến chất lượng thiết kế xây dựng và các hoạt động cung cấp dịch vụ vào dự án luật.

Vấn đề về dịch vụ thủy lợi cũng được nhiều đại biểu quan tâm, đóng góp ý kiến. Các đại biểu nhất trí với quan điểm chuyển đổi cơ chế từ thu “thủy lợi phí” sang “giá dịch vụ thủy lợi” để bảo đảm hiệu quả khai thác, sử dụng nước, giảm gánh nặng bao cấp từ ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng công trình thủy lợi. Các đại biểu cho rằng, việc tính giá dịch vụ thủy lợi góp phần sử dụng hợp lý, hiệu quả công trình thủy lợi, khuyến khích việc sử dụng nước tiết kiệm, đưa hoạt động thủy lợi tiếp cận với cơ chế thị trường; đồng thời nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, của nhân dân đối với việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên nước. Đồng tình với quan điểm này song đại biểu Nguyễn Lâm Thành (Lạng Sơn) đề nghị báo cáo tác động cần làm rõ các yếu tố kinh tế - xã hội, nhất là hiện trạng các công trình thủy lợi hiện nay; nhu cầu vốn đầu tư, duy tu bảo dưỡng, nhu cầu sử dụng hiện tại và dự báo nhu cầu sử dụng nước các loại, nguồn thu nếu thay đổi về cơ chế giá; đặc biệt là tác động đến các nhóm đối tượng sử dụng nước, nhất là đối tượng trong sản xuất nông nghiệp.

Băn khoăn về tác động của việc chuyển đổi cơ chế từ thu “thủy lợi phí”' sang “giá dịch vụ thủy lợi'” đến cộng đồng và những người sản xuất nông nghiệp, đại biểu Nguyễn Thanh Phương (Cần Thơ) cho rằng, hiện nay, chi phí trong sản xuất nông nghiệp cao, lợi nhuận đang thấp và biến động. Nếu dự Luật Thủy lợi quy định chuyển đổi từ phí sang giá dịch vụ có thể tạo thêm khó khăn cho nông dân trong khi Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về miễn giảm đất nông nghiệp cho nông dân. Đại biểu Nguyễn Thanh Phương nêu ý kiến: Để tránh các khó khăn xảy ra tức thời, gây khó khăn cho người sản xuất, dự án cần quy định rõ về chủ thể và các loại công trình, nguồn gốc các loại công trình để thu tiền trong dự án luật, làm cơ sở cho Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương quy định chi tiết về khung giá, lộ trình và các chính sách hỗ trợ hợp lý, bảo đảm tính khả thi, không gây tác động lớn đến hiệu quả sản xuất, tránh phát sinh việc thu phí tràn lan, gây tác động xấu trong xã hội. Đại biểu cũng cho rằng, về lâu dài, việc chuyển đổi từ "phí" sang ''giá'' là cần thiết, nhằm nâng cao trách nhiệm, hiệu quả khai thác về sử dụng tài nguyên nước của người sử dụng, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, góp phần đưa hoạt động thủy lợi ngày càng tốt hơn.

Còn đại biểu Đinh Thị Phương Lan (Quảng Ngãi) cho rằng Chính phủ cần cụ thể hóa lộ trình, trình Quốc hội thảo luận, để có bước đi thích hợp, giảm tác động tiêu cực đến đông đảo người dân đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời, Chính phủ cần bổ sung nguyên tắc, tiêu chí phân loại đối với thủy lợi phục vụ nông nghiệp, thủy lợi phục vụ các mục tiêu khác và các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý hai loại hình này, nhằm thu hút đầu tư, quản lý có hiệu quả hơn.

leftcenterrightdel
Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh phát biểu thảo luận. Ảnh: TTXVN. 

Nhiều đại biểu cũng bày tỏ đồng tình về vấn đề ưu tiên nghiên cứu khoa học và ứng dụng các mô hình thủy lợi cho nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao, bởi thực tế hiện nay, hệ thống thủy lợi truyền thống không đáp ứng được cho một số mô hình sản xuất nông nghiệp. Đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (TP Hà Nội) cho rằng, trước thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh như hiện nay, việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao đang là thực tiễn sinh động và có hiệu quả ở nhiều địa phương trong cả nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp, khó lường, yêu cầu cấp bách là phải ứng dụng khoa học công nghệ để bảo đảm đủ nước cung cấp cho các giống cây trồng, vật nuôi. Nhiều mô hình tưới nước tiết kiệm nhỏ giọt trong trồng trọt và xử lý ô nhiễm môi trường nước đã qua sử dụng, đã góp phần sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả. Do đó, đại biểu TP Hà Nội cho rằng, vào thời điểm hiện nay, nếu chúng ta vẫn thực hiện thủy lợi theo kiểu cũ, với các công trình thủy lợi to lớn, chiếm nhiều diện tích tài nguyên đất đai, cũng như dựa vào mặt bằng địa thế tự nhiên cao, thấp khác nhau, dẫn đến khô cạn ở vùng đất cao, úng ngập ở vùng đất thấp hơn thì không hiệu quả. Đại biểu đề nghị dự thảo luật cần đề cao vấn đề chủ động ứng dụng khoa học công nghệ gắn với phát huy kinh nghiệm truyền thống, nhằm bảo đảm tiết kiệm, công bằng trong hoạt động thủy lợi.

Liên quan đến quản lý Nhà nước về vấn đề thủy lợi, nhiều ý kiến nhấn mạnh, quản lý thủy lợi là vấn đề quan trọng của quốc gia, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với thủy lợi có tầm quan trọng đặc biệt, thể hiện ở vai trò đầu tư khai thác công trình thủy lợi, điều tiết khai thác, sử dụng và bảo đảm an toàn công trình thủy lợi… Do đó, việc quản lý thủy lợi và các hoạt động liên quan đến nước cần bảo đảm sự thống nhất; có quy định phân công rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi.

NGUYỄN THẢO