Chỉ với hơn 620 từ, được chia thành 4 phần: I- Nước ta là nước dân chủ. II - Dân vận là gì? III- Ai phụ trách dân vận? IV - Dân vận phải thế nào?, 70 năm qua, tác phẩm "Dân vận" vẫn mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cương lĩnh, kim chỉ nam về công tác vận động quần chúng của Đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên; đồng thời giải đáp những vấn đề có tính chất căn bản, cấp thiết của công tác dân vận (CTDV) trước yêu cầu nhiệm vụ của Đảng và của cách mạng.

1. Thấm nhuần tư tưởng “lấy dân làm gốc”

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh được kế thừa từ truyền thống của cha ông, nhất là về vai trò, sức mạnh của nhân dân, như các bậc tiền nhân đã dạy. Kế thừa tư tưởng “trọng dân”, “thân dân” theo truyền thống của dân tộc, đồng thời Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, nên Người đặc biệt đánh giá cao vai trò, sức mạnh của nhân dân. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"; “dân là gốc của nước”; “dân là quý nhất, là quan trọng nhất”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: “Dân là gốc của nước”, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, vì “mọi lực lượng đều ở nơi dân”.

leftcenterrightdel

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm HTX nông nghiệp Tân Lập, Quốc Oai, Hà Tây (tháng 7-1958). Ảnh tư liệu

Trong tác phẩm "Dân vận", Người khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”… và “Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Xuất phát từ quan điểm sự nghiệp cách mạng là của nhân dân nên suốt cuộc đời cách mạng, Người đã hy sinh, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân. Năm 1946, khi nước nhà mới giành được độc lập, trả lời một phóng viên nước ngoài, Người khẳng định: "Tôi tuyệt nhiên không ham công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành".

Tư tưởng Hồ Chí Minh “Lấy dân làm gốc”, để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng thì phải phát huy dân chủ, tức là để “dân làm chủ” và “làm lợi cho dân”. Người căn dặn cán bộ, đảng viên: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ". Người nhấn mạnh: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng... Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người nhấn mạnh: “Kinh nghiệm trong nước và các nước đã cho chúng ta biết: Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Gốc rễ của tư tưởng “lấy dân làm gốc” còn là vấn đề quan hệ máu thịt, gắn bó giữa Đảng với dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”. Đó là bài học xương máu của các đảng chính trị nói chung, nếu phạm vào sai lầm vừa xa dân, vừa che giấu khuyết điểm. Vì vậy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đánh giá kết quả công tác, thực hiện phê bình và tự phê bình, kịp thời nhận ra khuyết điểm để sửa chữa sai lầm. Gắn công tác phê bình với việc kiểm tra và giám sát chặt chẽ từ chương trình hành động, kế hoạch của cấp ủy đến của mỗi cán bộ, đảng viên để xây dựng tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Và để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, trong tác phẩm "Dân vận", Người khẳng định: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh v.v..) đều phải phụ trách dân vận”.

2. “Dân vận khéo” là phải biết phát huy dân chủ

Hồ Chí Minh khẳng định, phát huy dân chủ không có nghĩa là: “Không phải ở chỗ chào hỏi kính thưa lễ phép mà đủ. Không được phung phí nhân lực, vật lực của dân... Phải khôn khéo tránh điều gì có hại cho đời sống nhân dân. Biết giúp đỡ nhân dân cũng là biết tôn trọng dân”.

Theo Bác, trong quan hệ với nhân dân, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm CTDV phải sâu sát, tìm hiểu kỹ càng: “Hiểu nguyện vọng của dân, sự cực khổ của dân. Hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân... Phải tôn kính dân, phải làm cho dân tin, phải làm gương cho dân”. Để có thể: “Nói dân tin, ở dân quý, làm dân theo”, người cán bộ dân vận phải khiêm tốn học hỏi nhân dân, thành thực lắng nghe sự góp ý, phê bình của nhân dân.

Trong tác phẩm "Dân vận", để trả lời câu hỏi “Dân vận là gì?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ rõ: “Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít-tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ. Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được.

Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành.

Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân. Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”.

Tròn 24 năm trên cương vị đứng đầu Đảng, Nhà nước, dù bận rất nhiều công việc, nhưng để gần dân, hiểu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bố trí tiếp dân tại Phủ Chủ tịch và dành nhiều thời gian đi về cơ sở, tìm hiểu, “lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan trọng”. Những chuyến công tác về địa phương trực tiếp làm việc với nhân dân, đã giúp Người nắm sát công việc, hiểu đúng tình hình, từ đó đưa ra những quyết định chỉ đạo đúng đắn, phù hợp thực tiễn. Mặt khác, các cuộc gặp gỡ giữa Người với các tầng lớp đồng bào, là dịp để đồng bào trao đổi, bày tỏ tâm tư nguyện vọng với người đứng đầu Nhà nước, đồng thời là nguồn động viên to lớn đối với nhân dân, là cơ sở thắt chặt hơn niềm tin giữa Đảng với dân.

Với Hồ Chí Minh, không bao giờ Người coi mình đứng cao hơn nhân dân mà chỉ tâm niệm suốt đời là người phục vụ trung thành và tận tụy của nhân dân, “Như một người lính vâng mệnh quốc dân ra trước trận”. Đối với nhân dân, từ các vị nhân sĩ trí thức đến bà con lao động, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương đạo đức mẫu mực, là tượng đài tỏa ra ánh sáng của một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế luôn thấy ở Người sự gần gũi, ấm áp tình thương và sự bao dung, nếp sống giản dị và đức tính khiêm nhường, một sự giản dị thật vĩ đại, bởi vì Người đã hy sinh tất cả cho Tổ quốc, cho nhân dân; đặc biệt là lời căn dặn của Người với cán bộ, đảng viên trong bản Di chúc thiêng liêng: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

3. Cán bộ dân vận phải nêu gương từ lời nói, đến hành động

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu nhất. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người đảng viên, người cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là những cán bộ trực tiếp làm CTDV phải là những tấm gương sống. Cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu phải thực sự là tấm gương “nói đi đôi với làm”; “nói ít, làm nhiều”, hướng về dân, gần dân, hiểu dân, trọng dân, tin dân, học dân, dựa vào dân để đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên làm CTDV phải luôn thấu triệt tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh: “Đảng cầm quyền, nhưng nhân dân là chủ, quyền là do nhân dân ủy nhiệm, nên phải dốc lòng phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân”.

Thực hiện phương pháp nêu gương trong CTDV, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, không gì thuyết phục hơn là bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể. Người nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”; “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Người là tấm gương mẫu mực trong việc khởi xướng, gương mẫu thực hiện phong trào “Hũ gạo cứu đói” (năm 1945). Người đề xuất và tự mình mỗi tuần nhịn ăn một bữa, góp phần gạo vào hũ gạo cứu đói, được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, trở thành phong trào rộng lớn trong cả nước. Nêu gương bằng hành động để thuyết phục nhân dân nghĩa là người cán bộ phải đi đầu, xông pha vào những nơi ác liệt nhất, gánh vác những công việc khó khăn nhất; giải quyết mọi công việc, từ vận động, tập hợp lực lượng, đến chỉ đạo triển khai thực thi nhiệm vụ.

Nêu gương bằng hành động là “Nói đi đôi với làm”, cán bộ cấp trên gương mẫu, trách nhiệm cao trước cấp dưới và quần chúng; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời thực tế, xa rời cơ sở, xa rời quần chúng; kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên không dám nói, không dám hành động, hoặc “nói nhiều làm ít”, “nói mà không làm”, “nói một đàng, làm một nẻo”, thậm chí thụ động, ngồi chờ, ỷ lại, sợ trách nhiệm.

Hồ Chí Minh khẳng định, dùng phương pháp “nêu gương” để vận động nhân dân đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên ở bất kỳ vị trí công tác nào cũng phải nêu cao tính chiến đấu tự phê bình và phê bình. Người quán triệt: "Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân". Theo Người, để thực hành nêu gương, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải luôn coi trọng rèn luyện tác phong lãnh đạo, tác phong công tác; sâu sát thực tiễn, gần gũi nhân dân, thực hành dân chủ, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn. Người cán bộ dân vận phải có tác phong: ...“Óc nghĩ,  mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”-như Người chỉ rõ trong tác phẩm "Dân vận".

Vận động nhân dân, thông qua kết quả làm việc của cán bộ, đảng viên trong thực thi nhiệm vụ cũng chính là để xây dựng, củng cố quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân và dân với Đảng. Niềm tin đó chỉ được xây dựng và củng cố khi luôn có sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa lời nói và việc làm, nhất là sự nêu gương của cán bộ, đảng viên, hướng tới mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, làm việc theo tinh thần “dĩ công vi thượng”. Đó cũng chính là để chúng ta tiếp tục học tập, thấm nhuần và thực hiện tốt nhất lời căn dặn của Người trong tác phẩm "Dân vận" cách đây tròn 70 năm: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

PGS, TS TRẦN MINH TRƯỞNG

(Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)