Giai đoạn 2011-2015, cả nước đã huy động nguồn lực rất lớn cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Những con đường mới được mở ra, những cây cầu kết nối thông thương đã góp phần tạo động lực tăng trưởng cho các địa phương cũng như cả nước. Trong thời gian qua, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đã được rà soát, bổ sung với tầm nhìn tổng thể, dài hạn. Bên cạnh đó, phương thức và nguồn vốn đầu tư cũng được đa dạng hóa. Nhiều công trình quan trọng, thiết yếu được đưa vào sử dụng, tạo diện mạo mới cho đất nước, góp phần tích cực phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Với riêng hạ tầng giao thông, tất cả các lĩnh vực từ đường bộ, đường sắt đến hàng không, hàng hải, đường thủy đều được quan tâm đầu tư, bảo đảm tốt hơn kết nối trên phạm vi cả nước và giao thương quốc tế. Đến nay, nước ta đã hoàn thành hơn 700km đường cao tốc, vượt hơn 100km so với mục tiêu đề ra...

Không chỉ đầu tư xây dựng mới, những tuyến đường bộ hiện có cũng không ngừng được cải tạo, nâng cấp; đặc biệt là Quốc lộ 1, tuyến giao thông huyết mạch chạy dọc chiều dài đất nước và Quốc lộ 14 đi qua địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Bên cạnh đó, các công trình, dự án giao thông hoàn thành đưa vào sử dụng đã góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vận tải. Có thể kể Nhà ga T2 Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, cầu Nhật Tân, đường cao tốc cầu Nhật Tân-Nội Bài, cảng Cái Mép-Thị Vải... Kết cấu hạ tầng giao thông đã được đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, giúp lĩnh vực vận tải được tái cơ cấu một cách hợp lý, sử dụng hài hòa, phát huy thế mạnh các phương thức theo hướng tăng thị phần vận tải đường sắt, đường biển, đường thủy nội địa; giảm dần thị phần đường bộ; từ đó góp phần làm giảm chi phí vận tải; nâng cao hiệu quả chất lượng dịch vụ; tạo sức bật cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế đất nước. Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) được thực hiện 2 năm một lần, WEF xếp hạng năng lực, chất lượng hạ tầng giao thông Việt Nam năm 2014 đứng vị trí 74 so với các nước trên thế giới, tăng 16 bậc so với năm 2012 và tăng 29 bậc so với năm 2010.

Chúng ta có thể cảm nhận rõ những đổi thay của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông tác động tích cực đến kinh tế-xã hội đất nước. Tuy nhiên, cần phải thẳng thắn nhìn nhận hiện trạng hạ tầng giao thông nước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chưa được xử lý triệt để. Trong bối cảnh ngân sách Nhà nước hạn hẹp, rất nhiều dự án giao thông được đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hóa. Song, hiệu quả của các dự án này và tác động của việc thu phí hoàn vốn dự án, chi phí chung của toàn xã hội chưa được thể hiện rõ nét. Để có được những công trình giao thông hiện đại, đồng bộ, vốn đầu tư luôn đòi hỏi rất lớn. Trong giai đoạn tới, việc tìm kiếm nguồn lực cho phát triển hạ tầng giao thông vẫn là câu hỏi hóc búa; nhất là khi vốn ODA ngày càng giảm; trái phiếu chính phủ, các khoản vay của Nhà nước khó mở rộng được thêm. Đánh giá chung về mặt hạn chế trong đầu tư kết cầu hạ tầng, Đảng ta chỉ rõ, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội chưa đồng bộ, hiệu quả kết nối và chất lượng chưa cao. Quy hoạch kết cấu hạ tầng, nhất là ở các đô thị lớn chưa đáp ứng yêu cầu. Phát triển đường cao tốc và đầu tư nâng cấp một số tuyến quốc lộ quan trọng còn chậm; mạng lưới đường sắt khổ hẹp, lạc hậu; một số cảng biển, sân bay đã quá tải.

Trong giai đoạn 5 năm tới, một trong những ưu tiên đã được Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định là đẩy mạnh huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội để tiếp tục tập trung đầu tư hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại. Ưu tiên và đa dạng hóa hình thức đầu tư cho các lĩnh vực trọng tâm, trong đó với hạ tầng giao thông đặt ra yêu cầu là phát triển đồng bộ, có trọng điểm, kết nối giữa các trung tâm kinh tế lớn và giữa các trục giao thông đầu mối. Nguồn lực sẽ được tập trung cho các công trình lớn, quan trọng, thiết yếu, nhất là tại các khu vực có tiềm năng phát triển và giải quyết ách tắc, quá tải. Bên cạnh đó, cũng phải quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông tại các vùng khó khăn.

Hiện nay, một số công trình giao thông trọng điểm trên cả nước đang được tích cực triển khai. Cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai) đã được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, đang phấn đấu để có thể khởi công vào năm 2018. Bên cạnh đó, nhu cầu tiếp tục xây dựng các đoạn tuyến cao tốc trên trục Bắc-Nam cũng đặt ra cấp thiết để nối thông toàn tuyến, nâng cao hiệu quả khai thác. Ngoài ra, cũng cần phải nỗ lực để hoàn thành các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các cảng biển cửa ngõ quốc tế khu vực phía Bắc và phía Nam; đầu tư nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước triển khai xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam.

Để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, gánh nặng không chỉ đặt lên vai ngành giao thông vận tải mà còn cần sự chung tay, nỗ lực của các ngành, các cấp để có thể khơi dậy được sức mạnh tổng hợp các nguồn lực. Cơ quan quản lý Nhà nước cần nghiên cứu, sớm hoàn chỉnh thể chế, chính sách đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) để tạo được “đòn bẩy” trong việc phát huy nguồn lực xã hội. Nghiên cứu, đổi mới chính sách giá, phí để phù hợp với cơ chế thị trường, tạo thuận lợi, chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư, đồng thời, không dồn áp lực, gánh nặng quá lớn cho người dân. Cùng với các nhà đầu tư trong nước, cần tạo điều kiện, thu hút nhà đầu tư, ngân hàng nước ngoài tham gia vào dự án phát triển hạ tầng. Có thể cho phép nhượng quyền khai thác một số công trình đã đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp để làm vốn góp của Nhà nước, bảo đảm tính khả thi của các dự án…

Muốn đón đầu cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế, tạo đà cho tăng trưởng bền vững, kết cấu hạ tầng giao thông không thể trì trệ, lạc hậu. Hệ thống giao thông của đất nước phải hướng đến đáp ứng tiêu chuẩn hiện đại, an toàn, xây dựng cơ cấu vận tải hợp lý, tiết kiệm, chuyên nghiệp hơn, từ đó, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

MẠNH HƯNG