Mở đầu nội dung quán triệt, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ. Nghị quyết số 31-NQ/TW kế thừa những quan điểm, nguyên tắc cơ bản đã được khẳng định qua các nhiệm kỳ, đồng thời phát triển tư duy xây dựng Đảng phù hợp yêu cầu mới, xác định 5 quan điểm chỉ đạo, 4 định hướng trọng tâm và 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, cần tập trung làm rõ 6 nội dung cốt lõi.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc quán triệt các chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: VIỆT TRUNG

Thứ nhất, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng, coi đây là yêu cầu thường xuyên, xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của Đảng. Đây là tư tưởng rất quan trọng của Nghị quyết. Nghị quyết nhấn mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải trở thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, xuất phát từ yêu cầu phát triển của chính Đảng, không chỉ được đặt ra khi xuất hiện hạn chế, khuyết điểm hoặc vấn đề phức tạp.

Yêu cầu đặt ra là kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn. Kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, đổi mới không có nghĩa là xa rời nguyên tắc. Sự thống nhất giữa kiên định và đổi mới tạo nên bản lĩnh, sức sống và năng lực phát triển của Đảng.

Mỗi tổ chức đảng phải chủ động nhận diện, khắc phục hạn chế, sửa chữa khuyết điểm, hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, không chờ đến khi có kết luận kiểm tra hoặc xảy ra vi phạm mới tiến hành chỉnh đốn.

Thứ hai, nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa “xây” và “chống”, quản lý Đảng chặt chẽ, nghiêm minh.

Nghị quyết khẳng định “xây” là cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” phải kiên quyết, kiên trì, nghiêm minh, đồng thời bảo đảm tính giáo dục và nhân văn. Quản lý Đảng phải chặt chẽ từ tổ chức đến con người, từ phân công nhiệm vụ, thực thi quyền lực đến chấp hành nguyên tắc, chế độ công tác và trách nhiệm giải trình; bảo đảm mọi tổ chức đảng, đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Cùng với xử lý nghiêm vi phạm, cần chú trọng hoàn thiện cơ chế, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình; chủ động nhận diện, cảnh báo, phòng ngừa nguy cơ từ sớm, từ xa, từ gốc. Qua mỗi vụ việc phải làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh sai phạm để hoàn thiện cơ chế, chính sách, quản lý cán bộ và kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa tái diễn. Mục tiêu không chỉ là xử lý cái sai mà còn tạo môi trường khuyến khích, bảo vệ và phát huy cái đúng, cái tốt.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: VIỆT TRUNG

Thứ ba, xây dựng Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh; đề cao văn hóa Đảng, trách nhiệm nêu gương và sự thống nhất giữa lời nói với việc làm.

Nghị quyết nhấn mạnh xây dựng, thực hành chuẩn mực đạo đức cách mạng, văn hóa trong Đảng; đề cao tinh thần vì nước, vì dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; công tâm, trung thực, tôn trọng sự thật, bảo vệ cái đúng, nói đi đôi với làm. Những giá trị đó phải trở thành chuẩn mực ứng xử, hành động thường xuyên của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Cần khắc phục tình trạng nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm, sinh hoạt hình thức; kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đặc quyền, đặc lợi. Đạo đức, văn hóa của Đảng phải được thể hiện bằng phẩm chất, trách nhiệm, hành động của cán bộ, đảng viên và chất lượng phục vụ nhân dân.

Thứ tư, xây dựng Đảng phải thực sự dựa vào nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

Quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, Nghị quyết xác định Đảng lãnh đạo vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và chịu sự giám sát của nhân dân. Sức mạnh của Đảng không chỉ nằm ở tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh mà còn ở sự gắn bó mật thiết, niềm tin và đồng thuận của nhân dân.

Vì vậy, xây dựng Đảng phải gắn với thực hành dân chủ, lắng nghe ý kiến nhân dân, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, giám sát tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.

Thứ năm, gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hiệu quả phát triển đất nước; lấy kết quả thực tiễn làm thước đo quan trọng. Đây là một trong những điểm thể hiện rõ yêu cầu mới của Nghị quyết.

Chất lượng xây dựng Đảng phải được kiểm chứng qua năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và kết quả phát triển đất nước. Xây dựng Đảng phải thực sự tạo ra chuyển biến về chất lượng hoạch định chủ trương, quyết sách, năng lực thể chế hóa, tổ chức thực hiện, tháo gỡ các điểm nghẽn, huy động và phát huy hiệu quả các nguồn lực phát triển. Điều đó đòi hỏi đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu chiến lược, phân tích dữ liệu, dự báo và quyết định những vấn đề lớn; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ có tư duy phát triển, kiến thức và năng lực tổ chức thực hiện.

Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong Đảng, đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, chỉnh đốn và quản lý Đảng.

Nghị quyết yêu cầu cần nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện hệ thống dữ liệu về tổ chức đảng, đảng viên và công tác xây dựng Đảng bảo đảm đầy đủ, chính xác, thống nhất, cập nhật thường xuyên; kết nối, chia sẻ thông tin phù hợp quy định, phục vụ quản lý, đánh giá chất lượng hoạt động, theo dõi thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát và tham mưu chính sách. Đồng thời, phải bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ bí mật của Đảng và Nhà nước.

Quan trọng hơn, chuyển đổi số phải đi đôi với đổi mới tư duy, phương pháp làm việc và nâng cao năng lực số của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; khắc phục tình trạng có công nghệ mới nhưng vẫn duy trì cách làm cũ, gây lãng phí nguồn lực và phát sinh thủ tục không cần thiết.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc khẳng định: Những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 31-NQ/TW cho thấy yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới không chỉ dừng ở mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh mà còn phải thúc đẩy quá trình tự đổi mới, tự hoàn thiện, nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, năng lực và uy tín của Đảng. Trên nền tảng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng.