Vì vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, tư duy của Đảng luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với tình hình của đất nước, khu vực và thế giới. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Phát triển mạnh mẽ KHCN, làm cho KHCN thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh (QPAN)”.
Như vậy, so với các kỳ Đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề xuất tư duy mới, toàn diện và sâu sắc hơn về phát triển KHCN phục vụ sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN). Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, diện mạo nền kinh tế, xã hội của nước ta đã có nhiều thay đổi, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng hơn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với hội nhập về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và QPAN, hội nhập về KHCN cũng không ngừng được đẩy mạnh. Thành tựu chính trị, kinh tế, xã hội, QPAN, KHCN và đối ngoại, cũng như những kinh nghiệm đổi mới của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những năm qua đã tạo cho đất nước ta một diện mạo mới và vị thế mới trên trường quốc tế và khu vực. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia tiếp tục được tăng cường; chính trị-xã hội ổn định; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và QPAN được giữ vững. Thế và lực của đất nước tiếp tục phát triển vững mạnh, tạo ra những tiền đề quan trọng để tăng cường tiềm lực quốc phòng và khả năng phòng thủ để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN.
Trong những năm qua, KHCN đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng hệ thống quan điểm phát triển đất nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam. Khoa học tự nhiên đã có bước phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo cơ sở cho việc hình thành một số lĩnh vực KHCN đa ngành mới, góp phần nâng cao trình độ và năng lực của khoa học cơ bản. Khoa học kỹ thuật và công nghệ đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao năng suất, chất lượng hàng hóa và dịch vụ; cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; một số lĩnh vực đã tiếp cận trình độ tiên tiến khu vực và thế giới.
Tiềm lực KHCN của nước ta được tăng cường. Quản lý nhà nước về KHCN từng bước được đổi mới. Hệ thống pháp luật về KHCN được chú trọng hoàn thiện. Thị trường KHCN đã được hình thành và bước đầu phát huy tác dụng. Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh và chủ động hơn trong một số lĩnh vực, góp phần nâng cao năng lực, trình độ KHCN trong nước.
Tuy nhiên, hoạt động KHCN chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế-xã hội. Việc huy động nguồn lực của xã hội vào hoạt động KHCN chưa được chú trọng; đầu tư cho KHCN còn thấp, hiệu quả sử dụng chưa cao. Việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ KHCN còn nhiều bất cập. Cơ chế quản lý hoạt động KHCN chậm được đổi mới. Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển KHCN chưa gắn với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; cơ chế tài chính còn chưa hợp lý. Thị trường KHCN phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý. Hợp tác quốc tế về KHCN còn thiếu định hướng chiến lược, hiệu quả thấp.
Xuất phát từ thực tiễn đất nước, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: "Phải xây dựng chiến lược phát triển công nghệ của đất nước, chiến lược thu hút công nghệ từ bên ngoài và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên đất nước ta". Đây là một định hướng phát triển lớn và mới về phát triển công nghệ của đất nước trong thời kỳ mới. Trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu hơn vào khu vực và quốc tế, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế về KHCN nhằm "đi tắt đón đầu", bảo đảm sớm đạt được các mục tiêu chủ yếu về phát triển lĩnh vực KHCN phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có tính cấp thiết. Cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường hợp tác quốc tế về KHCN phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để thực hiện chủ trương trên, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế phát triển nguồn nhân lực KHCN. Nhân lực nói chung, nhân lực KHCN nói riêng là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KHCN bằng các chương trình đào tạo cụ thể, gắn với việc trực tiếp phát triển và nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học trong nước có thể kết hợp với các chương trình tài trợ, hỗ trợ cho nhân lực KHCN đi đào tạo ở nước ngoài và các hoạt động giao lưu, trao đổi học thuật quốc tế song phương và đa phương. Xây dựng mạng lưới hợp tác nghiên cứu với các nhà khoa học nước ngoài và mở rộng các chương trình đào tạo ở nước ngoài để cán bộ KHCN được cọ xát trong môi trường học tiên tiến và được đào tạo trong hoạt động nghiên cứu - triển khai quốc tế. Hợp tác quốc tế trong đào tạo nhân lực KHCN cần gắn với việc triển khai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể và gắn với ứng dụng thực tế. Chú trọng đào tạo nhân lực cho các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, các lĩnh vực công nghệ ưu tiên, công nghệ theo hướng công nghiệp để phát triển công nghệ cao, các ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức cao nhằm nâng cao tiềm lực KHCN phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Hai là, tăng cường hợp tác chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tiềm lực KHCN của quốc gia, tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế-xã hội, QPAN. Hiện nay, trình độ phát triển KHCN nước ta còn ở mức thấp so với các nước phát triển ở khu vực và thế giới. Vì vậy, việc nhập khẩu và chuyển giao công nghệ là cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm QPAN. Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác nghiên cứu với các đối tác, tập đoàn, viện nghiên cứu quốc tế… để chia sẻ thông tin, nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ nhập khẩu và chuyển giao công nghệ để nâng cao năng lực công nghệ trong nước. Với thực trạng năng lực công nghệ như hiện nay, Việt Nam cần đi theo hướng nhập khẩu và chuyển giao công nghệ qua hình thức các dự án FDI, nhưng cần chú trọng quản lý để tránh xảy ra tình trạng kẽ hở chính sách nhằm thực hiện chuyển giá, gây thiệt hại cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, nước ta cũng cần xây dựng một chiến lược chuyển giao công nghệ đồng bộ với việc đổi mới cơ bản và toàn diện về cơ chế trong tình hình hiện nay. Trong hợp tác chuyển giao công nghệ, cần chú trọng tiếp nhận và phát triển các công nghệ mới, tiên tiến như: Công nghệ chế tạo máy, công nghệ tự động hóa, công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới (nano, y-sinh), vật liệu có tính năng đặc biệt sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông, y-dược, bảo vệ môi trường, QPAN.
Ba là, xây dựng các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài về KHCN. Có cơ chế, chính sách ưu đãi về đầu tư, đất đai, cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính... để tạo đột phá trong thu hút các chuyên gia, nhà KHCN Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động KHCN ở Việt Nam. Cần có những thay đổi cần thiết về cơ chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài về KHCN nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài; nâng cấp chất lượng, hiệu quả các dự án FDI và khuyến khích các mối quan hệ, liên kết giữa các công ty xuyên quốc gia với các cơ quan nghiên cứu KHCN trong nước, giữa các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với nhau...
Bốn là, phát triển thị trường KHCN. Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả cho việc vận hành thị trường KHCN. Phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ kỹ thuật KHCN, môi giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá và định giá công nghệ. Đầu tư xây dựng các sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại các thành phố lớn. Xây dựng quy định và tiêu chí đánh giá, định giá tài sản trí tuệ, chuyển nhượng, góp vốn vào doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ. Hoàn thiện các chính sách về hỗ trợ xác lập và bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, xây dựng thương hiệu và thương mại hóa sản phẩm. Khuyến khích thành lập tổ chức chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Xây dựng bộ chỉ số thống kê, đo lường kết quả và hiệu quả hoạt động KHCN của các ngành và địa phương. Phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghệ, chuyên gia công nghệ, kết nối cung - cầu sản phẩm KHCN mới. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp, trao đổi, giao dịch thông tin về KHCN. Xây dựng hệ thống các giải pháp để hỗ trợ phát triển thị trường trong nước, ngăn chặn nhập khẩu các sản phẩm, công nghệ lạc hậu...
Đại tá VŨ HỒNG KHANH, Viện Chiến lược Quốc phòng