Theo tôi, có 3 nguyên nhân dẫn đến tham nhũng: Công tác nhân sự làm không đến nơi đến chốn; kẽ hở của chính sách và cơ chế giám sát của cộng đồng, của nhân dân, của truyền thông chưa đủ mạnh. Tôi cho rằng, xác định được 3 nguyên nhân như vậy thì sẽ bốc được "thuốc" chữa "bệnh" tham nhũng.

Về công tác nhân sự, từ khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát động "cuộc chiến" chống tham nhũng, chúng ta đã rà soát lại rất nhiều thể chế về công tác nhân sự. Nhưng tôi nghĩ vẫn chưa đủ độ chín, độ kín kẽ. Tiêu chuẩn cán bộ vẫn chú trọng hình thức, đó là bằng cấp và sự tín nhiệm của tập thể. Bằng cấp, chứng chỉ người ta có thể mua bán, bằng thật nhưng người giả. Lấy ý kiến tín nhiệm tập thể thì người ta có thể trao đổi, dàn xếp với nhau. Cho nên phải đổi sang phương thức đánh giá con người bằng thực chứng. Thực chứng là phải dựa vào kết quả cụ thể. Các doanh nghiệp có bộ chỉ số KPI đánh giá năng lực thể hiện ra bên ngoài. Tương tự, tại sao chúng ta không có bộ chỉ số đánh giá về cán bộ lãnh đạo? Tại sao không có quy định ứng viên được Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn giữ chức vụ phải trình bày cương lĩnh, dự kiến chương trình hành động của mình, trong đó vạch rõ lộ trình giải quyết công việc để có kết quả cụ thể? Định kỳ, Quốc hội, HĐND sẽ kiểm điểm, ai không thực hiện được đúng lộ trình đã đề ra thì phải từ chức hoặc bị truất quyền. Do đánh giá cán bộ thiếu thực chất nên mới có người "giả nguyên khí, ngụy hiền tài" lọt vào bộ máy. Nếu công tác nhân sự đi sâu vào đánh giá thực chứng, trọng bằng chứng thể hiện năng lực, trình độ, kết quả đầu ra thì mới chọn được cán bộ thực sự. Cho nên, chống tham nhũng trước hết phải thực hiện quyết liệt ngay từ công tác nhân sự, tổ chức nhân sự.

Về hàng rào pháp luật, cần khẳng định rằng, nền tảng đường lối, cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp không sai. Nhưng khi cụ thể hóa bằng các đạo luật, bằng hệ thống thể chế, pháp luật thì không phải lúc nào cũng khách quan, không phải lúc nào cũng đúng quan điểm, chủ trương, chính sách ghi nhận trong cương lĩnh chính trị, trong Hiến pháp. Hiện nay, trong xây dựng thể chế, pháp luật còn có sự lợi dụng cài cắm lợi ích nhóm. Kỹ năng, kỹ thuật lập pháp, kỹ thuật xây dựng thể chế còn có những hạn chế. Những hạn chế ấy, suy cho cùng, cũng vẫn là con người. Nó là kẽ hở cho tham nhũng chui lọt.

Tôi nghĩ, sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cần rà soát lại thể chế ở một tầm nhìn chiến lược hơn, Quốc hội cần có chiến lược lập pháp. Cùng với đó, phải có chế tài thật chặt chẽ, nghiêm khắc để kiểm soát, xử lý những người có quyền, có chức đã khởi xướng chính sách có lợi cho mình, cho lợi ích nhóm của mình. Chính sách ấy bắt nguồn từ đâu, khởi xướng từ đâu thì phải có hồ sơ lưu trữ để xác định chuỗi tham gia của từng người cụ thể trong quá trình xây dựng chính sách. Sau này, cần thiết có thể truy cứu lại, biết ngay trách nhiệm của từng người. Đấy cũng là tư tưởng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nêu ra: Đừng nghĩ về hưu mà thoát được. Bên cạnh đó, phải thường xuyên rà soát, tổng kết, đánh giá lại sự vận hành của thể chế, chính sách, pháp luật, rút ra cái gì ổn định, tác động tốt; cái gì không ổn định, tác động xấu để kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới.

Về công tác giám sát, cần tăng cường sự giám sát của nhân dân, của cơ quan, của tập thể càng rộng càng tốt. Bác Hồ nói, dân chủ là làm sao để cho dân mở miệng ra. Nghĩa là phải để cho dân nói được ý kiến của mình. Vừa rồi, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách rất hay. Ví dụ như quy chế đối thoại của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân theo định kỳ. Tuy nhiên, phải tăng cường thực chất. Nếu tiếp dân mà chỉ tiếp những người có giấy mời, thậm chí là dàn dựng theo kịch bản, bố trí người đến dự theo giấy mời để tung hô mình thì không thực chất, thiếu khách quan. Tiếp dân, đối thoại với dân phải công khai. Phải niêm yết thông báo ở nơi công cộng về thời gian, địa điểm tiếp dân để bất kỳ người dân nào cũng có thể đến, thế mới gọi là công khai.

* Ông Nguyễn Anh Việt, Giám đốc vận hành Công ty Cổ phần Tập đoàn 88 Group Việt Nam: Chống tham nhũng là thực chất và hiệu quả

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua cho thấy, thành quả lớn nhất thu được chính là củng cố hơn nữa niềm tin của người dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý của Nhà nước. Doanh nghiệp và người dân thật sự phấn khởi trước quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, với phương châm "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ", "bất kể người đó là ai". Tiếp xúc với các cán bộ hành chính, doanh nghiệp đã cảm nhận được những biến chuyển tích cực trong thái độ, hành vi, nạn nhũng nhiễu đã được hạn chế. 

Qua theo dõi, tôi thấy, có một vài luồng ý kiến cố tình xuyên tạc, cho rằng phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu bài, là phương tiện để các phe nhóm trong Đảng tiến hành đấu đá, loại trừ nhau trong cuộc tranh giành quyền lực. Rõ ràng đây là những luận điệu sai trái, thâm độc, cố tình xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và phá hoại đất nước Việt Nam để phục vụ mưu đồ đen tối. 

Cần phải khẳng định rằng, thứ nhất, tham nhũng có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù là thể chế chính trị nào. Nhiều quốc gia trên thế giới coi tham nhũng là một vấn đề nhức nhối và đã chủ động xây dựng các thiết chế để ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi vấn nạn này. Thứ hai, công cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay ở nước ta đang diễn ra ngày càng quyết liệt, thực chất và hiệu quả. Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã xử lý cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, trong đó, có những cán bộ cấp cao. Điều đó cho thấy, bất cứ ai, ở bất cứ cương vị nào nếu mắc sai phạm, tùy vào mức độ đều bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Đây là những minh chứng đanh thép nhất khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta luôn nghiêm minh và công bằng.

Theo tôi, sự nghiêm minh trong xử lý sai phạm đã có tác dụng răn đe, khiến những người muốn tham nhũng phải chùn bước, không dám thực hiện ý đồ. Đặc biệt, các thành quả tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng đã tạo cơ hội để những người thực sự có tài, có tâm, có tinh thần trách nhiệm cao có thể phát huy tài năng và cống hiến. 

* TS Nguyễn Minh Phong, Chuyên gia kinh tế: Bảo vệ và khen thưởng xứng đáng người tố cáo tham nhũng

Hiện nay, chúng ta đã có những cơ chế để khích lệ người dân cung cấp thông tin liên quan đến tham nhũng, ví dụ như đường dây nóng. Tuy đã có cam kết bảo vệ đối với người tố cáo, cung cấp thông tin phòng, chống tham nhũng nhưng cơ chế, mức độ bảo vệ và thưởng phạt như thế nào chưa thực sự rõ ràng. Nhiều người chưa thực sự an tâm, nhất là khi họ tố cáo lãnh đạo trong cơ quan mình đang làm việc. Việc mượn "bàn tay đen" cũng là sắc thái mới cần lưu ý, tức là khi người bị tố cáo tham nhũng dựa vào người khác để làm điều bất lợi cho người tố cáo. Tất cả những vấn đề này cần được nhận diện để có giải pháp xử lý. Đồng thời, nên có quy định rõ ràng về cơ chế bảo vệ nhân chứng, khen thưởng, từ đó, sẽ tạo ra phong trào phòng, chống tham nhũng mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

Theo tôi, quan trọng nhất là cơ chế bảo vệ người tố cáo, giữ được việc làm, thu nhập cho họ, bảo mật thông tin cá nhân của họ trước đối tượng tham nhũng để tránh động thái trả thù, cùng với xử lý những vấn đề liên quan trong việc bao che, tiếp tay, "chống lưng" cho tham nhũng. Bên cạnh đó, cần có cơ chế thưởng xứng đáng với kết quả chống tham nhũng, ví dụ thu hồi số tiền lớn từ đối tượng tham nhũng có thể dành một phần để hỗ trợ người tham gia chống tham nhũng, bao gồm cả cơ quan điều tra, khởi tố, người tố cáo...

Cũng cần nhận thấy, giám sát của cộng đồng, dư luận xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ người tố cáo. Vì vậy, trong cơ chế bảo vệ người tố cáo không nên để cộng đồng đứng ngoài cuộc mà cần thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân. Cần nâng cao hiệu quả hoạt động của đường dây nóng. Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, khi phản ảnh thông tin đến đường dây nóng không biết có được xử lý đến cùng không. Với những trường hợp nguồn cung cấp thông tin ẩn danh hiện chưa được xem xét đầy đủ. Một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị lấy lý do đơn thư nặc danh, ẩn danh để không xử lý thông tin tố cáo. Nếu thông tin được cung cấp có cơ sở thì cần phải xem xét. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận mặt trái của tố cáo nặc danh là tạo ra tình huống gây nhiễu thông tin. Với cơ quan báo chí, khi thực hiện điều tra vụ việc liên quan đến tham nhũng, có những phóng viên, nhà báo lo ngại bị lộ nguồn tin. Bản thân phóng viên, nhà báo tham gia điều tra phòng, chống tham nhũng cũng rất cần được bảo vệ.

* Ông Vũ Quốc Hùng, nguyên Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương: Phải có cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt các cơ quan phòng, chống tham nhũng

Tôi rất mừng trước những kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Tôi đọc rất kỹ và hoàn toàn nhất trí với các nội dung, các đánh giá trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020 vừa được tổ chức. Là một đảng viên, tôi nhiệt thành ủng hộ Đảng, ủng hộ Nhà nước, ủng hộ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong trận chiến chống “giặc nội xâm” vô cùng cam go.

Trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, tôi rất chú ý đến câu: “Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”. Ý này không phải là lần đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, mà đã nói một số lần.

Rõ ràng, muốn phòng, chống tham nhũng thì đầu tiên những người tham gia trên mặt trận phòng, chống tham nhũng phải thực sự trong sạch. Các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng phải thực sự là “thanh bảo kiếm” của toàn Đảng, toàn dân để tiêu diệt “giặc nội xâm”.  Thanh bảo kiếm ấy phải được mài giũa thường xuyên để sáng bóng, sắc bén. Chứ thanh bảo kiếm mà hoen gỉ thì hỏng.

Để "thanh bảo kiếm" sáng bóng, sắc bén thì phải thường xuyên rà soát, hoàn thiện các cơ quan phòng, chống tham nhũng, phải thường xuyên kiểm tra, giám sát, đánh giá cẩn trọng phẩm chất, tư cách của nhân sự trong các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là ở những cơ quan đầu não, quan trọng. Ngay cả một nhân viên hành chính, văn phòng trong cơ quan phòng, chống tham nhũng cũng có thể bị các đối tượng đang bị điều tra tham nhũng lợi dụng để biết các thông tin.

Các cơ quan như ủy ban kiểm tra, công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra... và ngay cả các cơ quan báo chí đều là mục tiêu để các đối tượng tham nhũng tác động, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan này. Tôi biết có vụ việc sai phạm rõ ràng, thế mà khi phóng viên đã tìm hiểu cặn kẽ, cụ thể thì tổng biên tập cơ quan báo chí lại không cho đăng, lấy những lý do rất vu vơ. Tôi hỏi thì phóng viên nói rằng: Tổng biên tập bảo không cho đăng vì "nhạy cảm". Nhưng thực chất là đối tượng đang bị phóng viên điều tra đã gặp tổng biên tập rồi...

Thế nên, những người đứng đầu các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng phải được lựa chọn kỹ, phải thực sự trong sạch, có trí tuệ, đủ bản lĩnh, đủ dũng khí, đủ đức, đủ tài. Những người đã có những tin đồn xấu thì phải kiểm tra xác minh ngay, nếu phát hiện dính “chàm” thì phải loại bỏ ngay. Phải kiểm tra, lựa chọn từ tính cách, lối sống. Ví dụ, người thích đàn đúm, ăn chơi, thích uống rượu thì không nên để ở cơ quan phòng, chống tham nhũng. Rồi những người không kín đáo, tính nguyên tắc không cao, hay than thở với gia đình, vợ con, cũng không nên là người đứng đầu cơ quan phòng, chống tham nhũng... Ngay cả những người dù bản thân có trong sạch nhưng mà có biểu hiện nể nang, né tránh trong chống tham nhũng thì cũng không phù hợp. Người có tính cách không hợp thì nên chuyển chỗ khác, đó chính là để cứu người đó.  

Theo tôi, trong thời gian tới, cần phải có nghị quyết hay chỉ thị về việc thường xuyên giám sát các cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng từ cơ sở đến Trung ương. Cần có cơ chế đặc biệt để chọn và thay thế cán bộ đứng đầu ở các cơ quan này.

Thêm nữa, tôi cho rằng, nên có cơ chế tiếp nhận thông tin tố cáo tham nhũng, tiêu cực cho phù hợp. Phải coi trọng việc lắng nghe trực tiếp, chứ người tố cáo rất ngại văn bản giấy tờ, vì lo “không phải đầu, cũng phải tai”, sợ bị trả thù. Khi nhận đơn tố cáo thì phải bảo mật thông tin cá nhân cho người tố cáo, phải quy trách nhiệm các cá nhân liên quan để lộ thông tin về người tố cáo; phải công bố người tiếp nhận, người xử lý đơn thư, quy định trách nhiệm người xử lý đơn thư; phải trả lời đơn thư tố cáo rõ ràng, tránh việc người ta tố cáo xong rồi lặng đi, không biết sự việc được giải quyết tới đâu.

* Đồng chí Lò Văn Mừng, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Điện Biên: Nhất quán chủ trương “tỉnh nắm xã, huyện nắm buôn, làng...”

Loạt bài của Báo Quân đội nhân dân vừa qua đã thực sự tạo được hiệu ứng tích cực trong dư luận xã hội; có sức lan tỏa sâu rộng đến các địa phương; nhất là vùng nhiều đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), trong đó có tỉnh Điện Biên. Qua theo dõi, nghiên cứu các bài viết, tôi cho rằng: Từ sau sự việc biểu tình, gây rối năm 2001, các tỉnh Tây Nguyên đã triển khai thực hiện nhiều chủ trương lớn, căn bản để ổn định tình hình. Trong đó, chủ trương “tỉnh nắm xã, huyện nắm thôn, làng và xã nắm hộ gia đình” đã giải quyết triệt để nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra.

 Trước hết, tôi cho rằng, đây là một chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo. Bởi lẽ, Tây Nguyên có diện tích rộng lớn, trong khi đồng bào DTTS sinh sống phân tán, nên vẫn còn những khoảng trống nhất định mà hệ thống chính trị cơ sở chưa thể nắm bắt kịp thời, hiệu quả. Do đó, với việc quyết liệt thực hiện chủ trương “tỉnh nắm xã, huyện nắm thôn, làng và xã nắm hộ gia đình”, hệ thống chính trị các cấp (tỉnh, huyện, xã) đã từng bước khỏa lấp khoảng cách giữa cán bộ với nhân dân; từng bước khắc phục những yếu kém của bộ máy chính quyền. Hơn thế, việc thực hiện chủ trương này còn góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân, sát dân, thường xuyên “3 bám, 4 cùng” với đồng bào; qua đó tăng cường đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa cán bộ, chính quyền với nhân dân; đồng thời sớm phát hiện, xử lý hiệu quả những vấn đề thực tiễn nảy sinh. 

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch, phản động vẫn thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, tấn công vào vùng đồng bào DTTS. Trên cơ sở những kết quả đạt được, các tỉnh vùng Tây Nguyên cần tiếp tục thực hiện lâu dài chủ trương “tỉnh nắm xã, huyện nắm thôn, làng và xã nắm hộ gia đình”. Bên cạnh đó, cần sớm có đánh giá, tổng kết để đúc rút kinh nghiệm; chủ động tham mưu cho các cấp triển khai thực hiện trên diện rộng. Đồng thời, các địa phương trong cả nước, nhất là vùng có nhiều đồng bào DTTS cần sớm nghiên cứu, chủ động trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh Tây Nguyên để học tập, vận dụng sáng tạo, hiệu quả ở địa phương mình.