Trong tác phẩm được coi là di chúc chính trị “Bàn về chế độ hợp tác”, Lê-nin viết: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: Trước đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền… thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là xoáy vào hoạt động giáo dục”. Theo quan điểm của Lê-nin thì GD-ĐT là cơ sở vật chất duy nhất của CNXH. 

Từ những chỉ dẫn của các nhà kinh điển và yêu cầu thực tiễn, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển GD-ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Bởi, GD-ĐT có vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực vì đối tượng hướng đến của giáo dục là con người mà mục tiêu của nó là trang bị những năng lực cần thiết cho con người tham gia vào đời sống xã hội. Giáo dục tác động vào chính con người với tư cách là chủ thể của hoạt động xã hội nhằm biến đổi chủ thể đó thành con người có nhân cách, tăng sức mạnh thể chất và tinh thần, tăng khả năng tham gia các hoạt động xã hội của con người. GD-ĐT góp phần nâng cao trình độ văn hóa, trình độ học vấn, trình độ khoa học kỹ thuật, xử lý công nghệ, tổ chức quản lý và năng lực hoạt động thực tiễn của người lao động, ảnh hưởng đến thể lực, trí tuệ của con người; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Đồng thời, GD-ĐT không chỉ là phương thức chủ yếu để giữ gìn, phổ biến, giao lưu, phát triển văn hóa, khoa học mà còn tạo ra nguồn nhân lực cho việc tái sản xuất ra sức lao động, giữ vị trí, vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Bởi vậy, Đảng ta xác định mục tiêu mà sự nghiệp GD-ĐT phải đạt tới là nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, trong đó, phát triển nhân lực là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến sự phát triển của đất nước.

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, trên cơ sở công tác GD-ĐT đối với việc phát triển nguồn nhân lực, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định: Quân đội là môi trường hoạt động quân sự mang tính thực tiễn cao, có những yêu cầu và yếu tố đặc thù. Các học viện, nhà trường, đơn vị quân đội là trung tâm, môi trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Việc phát huy vai trò GD-ĐT không những trực tiếp nâng cao chất lượng dạy và học mà còn góp phần vào phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng quân đội, xây dựng đất nước. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ban hành “Đề án kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo quân đội giai đoạn 2015-2020” và “Chiến lược GD-ĐT trong quân đội giai đoạn 2011-2020”, nhằm xây dựng, phát huy nguồn nhân lực trong quân đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong thời kỳ mới.

Nhất quán về quan điểm, với quyết tâm chính trị cao, trong nhiều năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ GD-ĐT, phát triển nguồn nhân lực trong quân đội. Hiện nay, các nhà trường quân đội đang tổ chức đào tạo 81 chuyên ngành nghiên cứu sinh, 45 chuyên ngành cao học, 91 chuyên ngành đại học, 121 chuyên ngành trung cấp chuyên nghiệp. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có trình độ đại học trở lên là 76,37%; trong đó trình độ tiến sĩ đạt 6,8%, thạc sĩ đạt 22,53%. Đây là lực lượng nòng cốt để tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực cho quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng.

Tuy đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, nhưng nhìn thẳng vào thực tế, công tác GD-ĐT, phát triển nguồn nhân lực trong quân đội thời gian qua cũng còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém nhất định. Do vậy, thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng, an ninh, GD-ĐT với việc phát triển nguồn nhân lực trong quân đội phải được giải quyết bằng nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp đồng bộ; trong đó, trước hết cần tập trung tạo sự thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò và tính tất yếu khách quan của đổi mới căn bản GD-ĐT, phát triển nguồn nhân lực. Đổi mới căn bản GD-ĐT theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chính là tạo ra nguồn nhân lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội, là quốc sách hàng đầu, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững; xây dựng thế trận, tiềm lực quốc phòng, an ninh vững chắc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, nội dung đổi mới GD-ĐT phải phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn; đáp ứng và thực hiện tốt phương châm mới của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội XII: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Tiếp tục đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội; tăng thực hành vận dụng vào kiến thức thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho quân nhân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng. Trên cơ sở nhận thức rõ, xây dựng nguồn nhân lực là công tác chuẩn bị con người-yếu tố quan trọng nhất, quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Cùng với đó, các học viện, nhà trường quân đội chú trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phải theo yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới, cần coi trọng cả “đức” và “tài”, gắn với nhiệm vụ, vị trí công việc được giao. Để làm được điều đó, các học viện, nhà trường, đơn vị, nhất là đơn vị được xác định tiến thẳng lên hiện đại; các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ... cần rà soát, đánh giá lại chất lượng nguồn nhân lực, xác định nhu cầu, quy mô nguồn nhân lực, có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật bổ sung cho các ngành nghề còn thiếu... Đồng thời, cần tạo sự gắn kết giữa quá trình đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực, có chính sách thu hút nhân tài của đất nước vào đào tạo, phục vụ quân đội; tuyển chọn những người đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên môn kỹ thuật ở các trường ngoài quân đội vào đào tạo với thời gian và chế độ đãi ngộ phù hợp, trọng tâm là lĩnh vực mà học viện, nhà trường, đơn vị trong quân đội chưa đảm nhiệm được. Việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cần gắn kết chặt chẽ với các yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ và trí thức quân đội. Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cần quán triệt và thực hiện tốt phương châm “thực học”, “thực tài”, coi trọng việc quản lý chất lượng “đầu ra”. Đặc biệt, cần chú trọng gắn kết chặt chẽ giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng với việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ở các học viện, nhà trường, đơn vị, bố trí công việc phù hợp, để họ phát huy tối đa năng lực, sở trường được đào tạo và đảm nhiệm.

Quân đội là môi trường lao động có tính đặc thù cao, để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, các cơ quan chức năng cần tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề xuất với Đảng, Nhà nước ban hành chế độ, chính sách nhằm thu hút nhân tài vào phục vụ trong quân đội, tạo nguồn phong phú, dồi dào; đồng thời, các chế độ chính sách đãi ngộ cũng phải tương xứng, thỏa đáng với tính chất lao động đặc biệt của quân đội, vừa đáp ứng được với điều kiện hoạt động, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước. Các học viện, nhà trường, đơn vị phải luôn quan tâm, chăm lo thực hiện tốt các chế độ, chính sách trong quân đội, với mọi đối tượng nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng. Cùng với việc thực hiện chế độ chính sách đã ban hành, cần nghiên cứu chế độ ưu tiên đối với đội ngũ cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo... nhằm phát huy cao nhất sự cống hiến của nguồn nhân lực này. Mặt khác, cần tiếp tục quan tâm, có chế độ, chính sách phù hợp khuyến khích, đãi ngộ xứng đáng với những cống hiến, đóng góp của đội ngũ nhà giáo trong các học viện, nhà trường, có công trình, đề tài được nghiên cứu ứng dụng, mang lợi ích lớn, có tính sáng tạo trong lĩnh vực khoa học quân sự; thực hiện tốt phương châm “trọng dụng nhân tài”, “tôn sư trọng đạo”; rà soát, xây dựng lại hệ thống các tiêu chuẩn chức danh cán bộ, tôn vinh mang tính đặc thù đối với đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục và đào tạo; nâng độ tuổi công tác, thời gian phục vụ đối với các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành, nhà giáo có học vị, chức danh khoa học, cán bộ có kinh nghiệm chiến đấu, quản lý, xây dựng đơn vị giỏi, nhân viên chuyên môn kỹ thuật có trình độ, tay nghề cao, nhằm phát huy nguồn nhân lực cho quân đội.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tăng cường liên kết đào tạo giữa các trường trong và ngoài quân đội là điều kiện quan trọng để giáo dục, đào tạo trong quân đội tiếp thu tri thức hiện đại, tiếp cận mô hình đào tạo tiên tiến trên thế giới. 

Đại tá, TS NGUYỄN VĂN BẠO, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam