Đồng thời, nâng cao chất lượng và quản lý tốt quy hoạch đô thị, bảo đảm phát triển bền vững, có chính sách xây dựng khu đô thị mới ven các đô thị lớn, khai thác hiệu quả hạ tầng và tiết kiệm đất. Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh ở nước ta, quy mô các đô thị ngày càng lớn, việc định hướng hình thành đô thị xanh, thân thiện với môi trường cần được thực hiện ngay từ quy hoạch, kết hợp với tăng cường đổi mới công nghệ, kỹ thuật trong xây dựng công trình để sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm.

Từ những năm cuối thập niên 1990 đến nay, tại Việt Nam, hệ thống đô thị đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu của Bộ Xây dựng, năm 1999, cả nước chỉ có 629 đô thị, đến cuối năm 2015 đã có khoảng 787 đô thị. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 23,7% năm 1999 lên 35,7% năm 2015. Như vậy, tính trung bình, cứ một tháng nước ta có thêm 1 đô thị. Dự kiến đến năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa sẽ tăng lên 50%. Tổng diện tích đất tự nhiên của các đô thị hiện chiếm hơn 10% diện tích cả nước. Khu vực đô thị trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của đất nước, đóng góp hơn 70% tổng thu ngân sách toàn quốc. Trong đó, 5 thành phố trực thuộc Trung ương có giá trị GDP chiếm 50% GDP của cả nước. Khu vực đô thị cũng góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước. Là nơi tập trung lượng dân cư đông đúc, đặc biệt tại các thành phố lớn, việc xây dựng đô thị hướng đến sử dụng hiệu quả tài nguyên, tạo ra những không gian xanh, không chỉ giúp người dân có môi trường sống tốt hơn mà còn góp phần bảo đảm cân bằng sinh thái.

Cùng với số lượng đô thị không ngừng tăng lên, các đô thị hiện nay đang đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là giải quyết những nút thắt trong tăng trưởng, hướng đến mục tiêu tăng trưởng bền vững. Tăng trưởng ở các đô thị vẫn chủ yếu dựa vào nhân công giá rẻ, hiệu suất lao động thấp, dễ bị tác động do biến động kinh tế và tự nhiên, nhất là trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như hiện nay. Phát triển đô thị chưa được kiểm soát chặt chẽ theo quy hoạch, kế hoạch, dẫn đến lãng phí tài nguyên đất đai, khó kiểm soát phát thải ra môi trường. Bên cạnh đó, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng đô thị không đồng bộ, thậm chí ở nhiều nơi đã xuống cấp, lạc hậu dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông, ngập úng cục bộ, ô nhiễm môi trường, quá tải ở trường học, bệnh viện... Để giải quyết được những thách thức này, việc nghiên cứu, triển khai quy hoạch và xây dựng đô thị xanh trở thành yêu cầu cấp thiết.

Theo ý kiến của các chuyên gia, đô thị xanh phải đạt được nhiều tiêu chí, trong đó phải có không gian xanh, công trình xanh, giao thông xanh, công nghiệp xanh, chất lượng môi trường đô thị xanh; bảo tồn cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, công trình lịch sử, văn hóa; cộng đồng dân cư sống thân thiện với môi trường và thiên nhiên. Tại một số thành phố lớn của nước ta như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh đã xuất hiện những khu đô thị mới được xây dựng với định hướng là đô thị sinh thái, trong đó, chú trọng tăng diện tích công viên, cây xanh, mặt nước, tổ chức không gian công cộng tốt. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một phần trong các điều kiện của đô thị xanh. Muốn thực sự hình thành đô thị thân thiện với môi trường, ngay từ khâu quy hoạch đã phải lồng ghép với việc sử dụng tài nguyên hiệu quả, nâng cao hệ số sử dụng đất, tạo không gian mở cho đô thị. Quy hoạch không gian đô thị cũng cần phải bảo đảm nguyên tắc đi trước một bước, có tính chất dự báo, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái trong đô thị, tạo thêm nhiều không gian cây xanh, mặt nước, bảo đảm các khu vực chức năng của đô thị thỏa mãn tiêu chí về chất lượng môi trường.

Nghiên cứu của Viện Quy hoạch đô thị nông thôn Quốc gia cho thấy, cần phải đổi mới tư duy quy hoạch đô thị từ tư duy chinh phục thiên nhiên sang xu thế thích ứng với thiên nhiên. Có thể giảm nhu cầu sử dụng năng lượng đô thị nhờ các giải pháp hình thành và tạo lập khung cấu trúc cảnh quan tổng thể dựa trên các yếu tố đặc trưng của khu vực đó như địa hình, khí hậu, thủy văn. Hay nói cách khác là phát huy lợi thế sẵn có của điều kiện tự nhiên. Khung cấu trúc cảnh quan này sẽ là giới hạn cho việc phát triển các công trình xây dựng và là nền tảng để đề xuất giải pháp hạ tầng kỹ thuật xanh, tiết kiệm năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc áp dụng các giải pháp hạ tầng như công viên ướt, hồ điều hòa, làm sạch nước bằng quá trình sinh học, mở rộng không gian chứa nước… sẽ góp phần tạo ra nhiều không gian xanh cho đô thị.

Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại đô thị hiện nay là do không thể tiêu thoát hết nước mưa, không xử lý nước thải trước khi đưa ra môi trường. Nước mưa tại các không gian xây dựng đô thị như mái nhà, đường phố, bãi đỗ xe không thể thẩm thấu tự nhiên vào đất mà phải theo hệ thống thu gom và đổ ra kênh, mương, ao, sông… Do đó, giải pháp tăng diện tích thẩm thấu bề mặt của hệ thống thu gom truyền thống thành vườn nước mưa, tuyến thu gom xanh sẽ giúp thu gom, thẩm thấu và lọc tự nhiên nước mưa, tái sử dụng trước khi đổ xả ra các nguồn tiếp nhận.

Trong thiết kế đô thị cần gắn giao thông công cộng với các không gian của đô thị. Nhờ vậy, có thể phát huy giá trị bất động sản của những khu vực có tuyến giao thông công cộng chạy qua, tạo tính thống nhất, đan xen hài hòa vào cảnh quan đô thị. Các điểm dừng đỗ của hệ thống giao thông công cộng sẽ được xây dựng thành các điểm nhấn thẩm mỹ cho đô thị. Trong quá trình xây dựng công trình dân dụng, công cộng ở đô thị nên chú trọng sử dụng các loại vật liệu thân thiện với môi trường như vật liệu xây không nung, vật liệu tái chế… Cần có cơ chế ưu đãi, khuyến khích để phát triển công trình xanh. Đây là những công trình sử dụng hợp lý, tiết kiệm năng lượng, nước, vật liệu, giảm đến mức thấp nhất tác động xấu với môi trường, sức khỏe con người, bảo tồn được cảnh quan sinh thái, tự nhiên.

Chú trọng đến không gian, kiến trúc, cảnh quan, để đô thị Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, cần tập trung giải quyết các vấn đề về kinh tế đô thị, tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân đô thị, nhất là những người thu nhập thấp, bảo đảm đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho người dân. Mô hình tăng trưởng kinh tế của các đô thị cần phát huy được lợi thế so sánh đặc trưng của mỗi địa phương. Với vai trò là đầu tàu kinh tế của mỗi vùng, mỗi quốc gia, mô hình tăng trưởng của đô thị không thể không xem xét mức độ ảnh hưởng, tác động đến môi trường xung quanh vì sự tồn tại lâu dài, thịnh vượng của đô thị đó và cả những ảnh hưởng tích cực, lan tỏa đến khu vực khác. Không đô thị nào có thể tồn tại chỉ dựa trên việc cho thuê, xuất khẩu tài nguyên trực tiếp hay gián tiếp và nguồn phân bổ từ ngân sách Trung ương. Tiến trình đô thị hóa trên cả nước cũng như xu hướng tác động của các vấn đề toàn cầu đòi hỏi các đô thị phải có tầm nhìn, kế hoạch dài hạn cho mục tiêu tăng trưởng bền vững. Các đô thị Việt Nam đều có những ưu điểm, lợi thế riêng, nếu được phát huy sẽ nâng cao sức cạnh tranh, giúp đô thị ngày càng có đóng góp xứng đáng vào tiến trình phát triển, đi lên của đất nước.

MẠNH HƯNG