Vì vậy, cấp ủy cơ sở, nhất là cấp ủy cơ sở ở các địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc đưa mục tiêu bảo vệ môi trường mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra thành hiện thực.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh phải “Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên do con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra. Hạn chế, tiến tới khắc phục căn bản tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường, tăng cường phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường”.

Muốn ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên, giải pháp lớn có ý nghĩa quyết định nhất là phải huy động sự tham gia của nhân dân trong giám sát hoạt động gây ô nhiễm môi trường, nhất là hoạt động của các dự án kinh tế. Thực tế, thời gian qua, hầu hết các vụ việc gây ô nhiễm môi trường được phát hiện cũng đều đến từ sự giám sát, phản ánh của quần chúng nhân dân (thông qua báo chí và các tổ chức đoàn thể là thành viên Mặt trận Tổ quốc). Tuy nhiên, người dân đa phần chưa được trang bị kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường, chưa được phổ biến vai trò, trách nhiệm của mình trong giám sát bảo vệ môi trường. Giải quyết được vấn đề này, chính là trách nhiệm của cấp ủy cơ sở. Phải thông qua các hoạt động dân vận nhằm tuyên truyền, giáo dục sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về quyền và nghĩa vụ được tham gia giám sát công tác bảo vệ môi trường. Cùng với đó, phải kiên quyết trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công khai, minh bạch đến người dân các nội dung thông tin về bảo vệ môi trường để người dân biết và tham gia phản biện, giám sát. Chẳng hạn, từ khi phê duyệt các dự án kinh tế-xã hội cần công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường; cam kết bảo vệ môi trường của doanh nghiệp với cơ quan có thẩm quyền; giấy phép quản lý chất thải nguy hại; giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu; giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; giấy phép xả thải đối với nước thải… Chỉ có như vậy, người dân mới có cơ sở giám sát, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Vấn đề tiếp theo là đưa chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường vào thực tiễn. Cấp ủy cơ sở cần có giải pháp huy động các nguồn lực từ các thành phần không thuộc kinh tế Nhà nước, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Hiện nay, từ hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng đến hệ thống pháp luật của Nhà nước đã và đang ngày càng hoàn thiện, nhưng thực tiễn công tác bảo vệ môi trường đang đòi hỏi cấp ủy cơ sở phải biến các chủ trương, chính sách, các bộ luật về bảo vệ môi trường thành nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của mọi tổ chức, bộ phận và công dân trong địa phương mình. Ý nghĩa to lớn của việc xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là mọi đối tượng trong xã hội không phân biệt giới tính, lứa tuổi, lĩnh vực ngành nghề đều ý thức được vai trò và trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường. Từ nhận thức sẽ đi đến hành động. Công tác xã hội hóa phải làm chuyển từ lối sống, nếp nghĩ, thói quen của mỗi cá nhân tự do, tùy tiện, sang lối sống, nếp nghĩ theo hướng văn minh, tôn trọng môi trường.

Bất cập của xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường hiện nay là các địa phương, nhất là cấp cơ sở chưa khuyến khích khối tư nhân tham gia sâu rộng hơn nữa vào bảo vệ môi trường. Ví dụ trong lĩnh vực xử lý, phục hồi các điểm ô nhiễm, lĩnh vực công nghiệp môi trường; chưa tạo điều kiện để có sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước tham gia bảo vệ môi trường. Vẫn còn những đối xử chưa thực sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia bảo vệ môi trường. Ngân sách địa phương dành cho hoạt động môi trường chưa được quan tâm.

Các giải pháp lớn về bảo vệ môi trường trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng đề cập rất nhiều đến trách nhiệm của cấp ủy cơ sở. Đó là cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân; kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm; quy hoạch và xây dựng các công trình xử lý rác thải tập trung theo vùng, cụm xã; hạn chế, tiến tới ngăn chặn căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, lưu vực sông, khu và cụm công nghiệp, khu đô thị và khu dân cư tập trung ở nông thôn; tập trung xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng. Ở các giải pháp vĩ mô như: Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản; khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo và các nguyên liệu, vật liệu mới, thân thiện với môi trường... thì vai trò, trách nhiệm của cấp ủy cơ sở cũng rất quan trọng và trên thực tế, nếu cấp ủy cơ sở không thực sự quan tâm thì các giải pháp trên không thể đi vào cuộc sống.

Phát triển kinh tế-xã hội gắn kết với bảo vệ môi trường không chỉ là mục tiêu mà trên thực tế đã trở thành quy luật, nguyên tắc trên hành trình phát triển bền vững. Do tầm quan trọng ngang nhau của môi trường và phát triển nên không thể có sự đánh đổi của môi trường cho phát triển hay ngược lại. Nâng cao vai trò của cấp ủy cơ sở, theo đó, đã trở thành một vấn đề mang tính tất yếu khách quan trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Đại tá, PGS, TS LÊ DUY CHƯƠNG, Chủ nhiệm Khoa CTĐ, CTCT - Học viện Chính trị