Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã từng bước chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Quá trình này đã đưa lại những kết quả tích cực góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo kinh tế-xã hội của đất nước, nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.

Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ phương hướng đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế, đó là chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đây cũng là một trong những phương hướng được văn kiện Đại hội XII xác định để hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong nhiệm kỳ tới.

Thực hiện các định hướng chỉ đạo về hội nhập kinh tế quốc tế xuyên suốt trong nghị quyết các kỳ đại hội Đảng gần đây, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu, đàm phán và ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế, thương mại quốc tế, chuẩn bị kỹ các điều kiện thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, tham gia các điều ước quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư... Đặc biệt từ năm 2010 đến nay, Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn chủ động đàm phán và ký kết các FTA với nhiều nước trong khu vực và thế giới, thực hiện đúng với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Việc Việt Nam ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU), dự kiến có hiệu lực vào năm 2018, là bằng chứng cho thấy mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Đó là chưa kể Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết các FTA song phương với nhiều nước theo xu hướng ngày càng gia tăng về số lượng.

Cần phải nhấn mạnh rằng, kể từ khi ý tưởng Cộng đồng ASEAN được khởi xướng đến khi hoàn thành, đặc biệt từ sau năm 2015, khi ASEAN hoàn tất quá trình hình thành cộng đồng thống nhất thông qua ba trụ cột chính, trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam được đánh giá là nước thành viên đạt tỷ lệ hoàn tất lộ trình xây dựng cộng đồng ở mức cao mặc dù nguồn lực còn hạn chế, trong đó thể hiện rõ rệt trong lĩnh vực kinh tế. Việt Nam là một trong những nước đạt tỷ lệ cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu của Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC với mức hoàn thành gần 90%. Việt Nam tham gia tích cực trong đàm phán về các biện pháp thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ, chủ động thực hiện các cam kết về giảm thuế nhập khẩu xuống mức 0% đến 5% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN...

Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước không chỉ được hiện thực hóa một cách sinh động như trên mà còn được chứng minh trong thực tiễn bằng những thành quả đáng khích lệ. Chính sự chủ động, tích cực tham gia vào nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam đã góp phần thúc đẩy cải cách kinh tế và thể chế trong nước, tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế... Hội nhập kinh tế không chỉ giúp thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện mà còn tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Một số sản phẩm của Việt Nam đã xác lập được thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế như dầu khí, viễn thông, dệt may, một số sản phẩm nông sản (gạo, cà phê, hạt tiêu,...).

Tuy nhiên, tình hình thế giới và khu vực đã, đang xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng. Các nước tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu tạo sức ép cạnh tranh ngày càng lớn. Thế giới xuất hiện những hình thức liên kết kinh tế mới, các định chế tài chính quốc tế, khu vực, các hiệp định song phương và đa phương thế hệ mới. Trong khi đó, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong AEC và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) theo lộ trình. Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia các FTA thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước. Trong quá trình đó, cơ hội và thách thức sẽ luôn song hành, đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị kỹ càng để tận dụng tốt các cơ hội và đối phó với các tác động tiêu cực.

Thực tế trên đòi hỏi cần phải nhìn nhận rõ một số lĩnh vực còn hạn chế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để từ đó tận dụng tốt hơn các cơ hội và đối phó hiệu quả hơn với các thách thức đặt ra. Giới chuyên gia đã nhận diện được một số hạn chế, đó là tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhưng chưa thực sự bền vững, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp trong nước còn thấp. Năng suất lao động tăng chậm, thu hút đầu tư vẫn dựa vào lợi thế nhân công và chi phí mặt bằng rẻ, chi phí năng lượng thấp đã ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của doanh nghiệp và sản phẩm. Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng còn chậm được cải thiện, trình độ công nghệ của đa số các doanh nghiệp còn lạc hậu...

Về vĩ mô, hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam được cho là chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng chưa thực sự gắn kết với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.

Những tồn tại này đòi hỏi Việt Nam phải gắn kết giữa hội nhập kinh tế quốc tế với đẩy mạnh cải cách trong nước, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế trong tổng thể phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Giai đoạn 5 năm tới đây, Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các FTA thế hệ mới. Vì vậy, Việt Nam cần tận dụng các cam kết quốc tế để mở rộng thị trường, tái phân bổ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế cũng như doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là cần gia tăng mức độ tự chủ, độc lập của nền kinh tế, tránh để bị phụ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể, giành vị trí cao hơn trong các chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam cũng cần tận dụng chính hệ thống quy tắc và luật lệ của các tổ chức quốc tế để bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân Việt Nam trong quan hệ với đối tác nước ngoài.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần hoàn thiện thể chế trong nước, nhất là hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế. Đào tạo nhân lực cho hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một yêu cầu cấp bách, trong đó cần quan tâm xây dựng đội ngũ chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế có đủ trình độ tư vấn chính sách và hỗ trợ Chính phủ xử lý các vấn đề pháp lý nảy sinh trong quá trình hội nhập.

XUÂN PHONG