Cuộc đời ông là tấm gương sáng về lòng yêu nước, ý chí đấu tranh và tinh thần phụng sự Tổ quốc. Nhân kỷ niệm 125 năm Ngày sinh đồng chí Trần Huy Liệu là dịp để chúng ta tưởng nhớ, tri ân và ôn lại cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, đầy cống hiến của một chiến sĩ yêu nước, nhà cách mạng tiền bối, tiêu biểu, người trí thức lớn đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Rèn chí lớn trong lao tù thực dân
Đồng chí Trần Huy Liệu sinh năm 1901 tại làng Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình). Ông lớn lên trong bối cảnh đất nước chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp. Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than, ngay từ tuổi trẻ ông đã sớm nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý chí đấu tranh chống áp bức, bất công.
Những năm đầu thế kỷ XX, Trần Huy Liệu tham gia nhiều hoạt động yêu nước và nhanh chóng trở thành một cây bút có ảnh hưởng trong đời sống báo chí, chính trị đương thời. Với các bút danh như Trần Huy Liệu, Nam Kiều, Đẩu Nam, Hải Khách, Bút Kiếm, Ẩm Hận, ông đã sử dụng ngòi bút làm vũ khí sắc bén để cổ vũ tinh thần yêu nước, thức tỉnh lòng tự hào dân tộc và khơi dậy ý chí đấu tranh giành độc lập của nhân dân. Nhiều bài viết của ông đã thể hiện khí phách của một người trí thức yêu nước, luôn đau đáu trước vận mệnh dân tộc.
Do tích cực tham gia các hoạt động yêu nước và đấu tranh chống chế độ thực dân, đồng chí Trần Huy Liệu nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1929, ông bị bắt trong vụ án liên quan đến Việt Nam Quốc dân Đảng[1] và bị kết án đày ra Côn Đảo[2].
Những năm tháng lao tù không làm lung lay ý chí mà càng tôi luyện thêm bản lĩnh chính trị và tinh thần cách mạng của ông. Trong hồi ký đồng chí Trần Huy Liệu viết: “Côn Đảo là địa ngục trần gian do thực dân Pháp tạo ra. Nhưng cũng chính địa ngục này các chiến sĩ cách mạng đã biến nó thành trường học, trường đào tạo và rèn luyện các chiến sĩ cách mạng. Hướng về đất liền, tôi như thấy cả một vũ đài rộng lớn đương chờ đợi chúng tôi. Dưới ngọn cờ búa liềm, tôi phải chạy mau, phải nhanh chân lên vì thấy mình đã chậm bước lắm rồi”[3]... Như vậy, từ một người yêu nước, ông từng bước tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin, với con đường cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và trở thành người chiến sĩ cách mạng kiên trung.
Sau khi ra khỏi nhà tù Côn Đảo, đồng chí Trần Huy Liệu vẫn là đối tượng bị chính quyền thực dân Pháp đặc biệt theo dõi và giám sát. Đầu năm 1940, trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường đàn áp các lực lượng yêu nước và cách mạng. Báo Đời Nay bị rút giấy phép hoạt động, còn Trần Huy Liệu bị bắt giam trở lại và đày lên Nhà tù Sơn La. Hồi tưởng về sự kiện này, trong "Dưới hầm Sơn La", ông viết: “Cuộc Đại chiến thứ hai bùng nổ, báo Đời Nay bị thu giấy phép và tôi bị bắt bỏ tù, đày đi Sơn La. Chúng tôi lên Sơn La thì liền theo đó, Cút-xô cũng được bổ làm Công sứ Sơn La”[4]. Lời hồi ký cho thấy việc chuyển Trần Huy Liệu lên Sơn La nằm trong chủ trương siết chặt khủng bố của chính quyền thực dân đối với những người hoạt động cách mạng, đồng thời phản ánh sự gắn liền giữa việc điều động đội ngũ cai trị với chính sách tăng cường kiểm soát Nhà tù Sơn La trong giai đoạn chiến tranh.
 |
| Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền Trần Huy Liệu đang giảng tại lớp tuyên truyền khóa I năm 1945. Ảnh tư liệu |
Tại đây, ông được bầu làm Bí thư Chi bộ nhà tù và đấu tranh cương quyết với chế độ Nhà tù[5] Sơn La. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh chống Cút-xô giam anh em 11 ngày dưới hầm tối (theo hồi ký của đồng chí Trần Huy Liệu nói 12 ngày - T.G). Đồng chí Trần Huy Liệu viết: “Dưới sự chỉ huy của Cút-xô, lính đốc thúc dồn 156 người chúng tôi xuống cái hầm mà ngày thường chỉ nhốt được 11 người”; “Chúng tôi tưởng rằng nó nhốt xuống hầm một lúc... rồi sẽ trả chúng tôi về... chớ không nghĩ nó ác độc đến nỗi dùng cái hầm này để làm mồ chôn sống gần 160 người”. “Chúng tôi chỉ có thể ngồi, mà là ngồi bó gối, chớ không có chỗ duỗi chân... hầm chật, người đông, thêm vào đấy là khí trời nóng nực của mùa hè” [6].... Những dòng hồi ký đã phản ánh chân thực sự tàn bạo của chế độ lao tù thực dân, đồng thời cho thấy ý chí đấu tranh kiên cường, tinh thần đoàn kết và năng lực tổ chức của chi bộ nhà tù dưới sự lãnh đạo của đồng chí Trần Huy Liệu trong việc bảo vệ quyền lợi và khí tiết của những người tù cách mạng.
Tháng 8-1942, ông bị chuyển tới căng Bá Vân do thực dân Pháp lập từ tháng 6-1942 ở làng Bá Vân (xã Bình Sơn), huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (nay thuộc xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên). Nằm trên một gò đất rộng, bằng phẳng giữa một vùng quê hẻo lánh cách trung tâm tỉnh lỵ Thái Nguyên 11km về phía Tây Nam, căng Bá Vân là nơi giam giữ những người yêu nước, những chiến sĩ cộng sản, có người đã mãn hạn tù, có người mới bị địch bắt chưa thành án, trong đó số đông bị chuyển từ các nhà tù Sơn La, Phú Thọ về.
Cuối năm 1944, trong khi phong trào cách mạng ở Đình Cả đang phát triển mạnh và ngọn lửa khởi nghĩa từng bước được nhen nhóm, thực dân Pháp tiếp tục siết chặt chính sách đàn áp đối với các tù chính trị. Đồng chí Trần Huy Liệu cùng một số đồng chí bị chuyển từ Trại tập trung Bá Vân về giam giữ tại Nhà lao Nghĩa Lộ cho đến tháng 3-1945. Hồi tưởng về sự kiện này, ông viết: “Cuối năm 1944, trong lúc ngọn lửa khởi nghĩa đương bốc lên ở Đình Cả thì cũng là lúc mà thực dân Pháp đem chúng tôi từ tập trung doanh Bá Vân về nhốt ở Nhà lao Nghĩa Lộ”[7]. Việc chuyển giam này diễn ra trong bối cảnh chính quyền thực dân tăng cường kiểm soát các chiến sĩ cách mạng trước những chuyển biến nhanh chóng của tình hình chiến tranh và sự phát triển của phong trào cách mạng trong nước.
Có thể thấy, những năm tháng bị giam cầm trong hệ thống nhà tù của thực dân Pháp là một giai đoạn đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Huy Liệu. Từ Côn Đảo, Hỏa Lò, Sơn La, Bá Vân đến Nghĩa Lộ, dù phải chịu đựng sự tra tấn, đày ải và những điều kiện giam giữ vô cùng khắc nghiệt, ông không những không bị khuất phục mà còn tiếp tục rèn luyện bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin vào con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo. Chính trong môi trường lao tù, từ một người yêu nước, Trần Huy Liệu từng bước trưởng thành thành một chiến sĩ cộng sản kiên trung, đồng thời thể hiện phẩm chất của một cán bộ có năng lực tổ chức, tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh kiên cường thông qua các hoạt động của Chi bộ Nhà tù Sơn La và các cuộc đấu tranh chống chế độ giam cầm hà khắc của thực dân Pháp.
Những thử thách khốc liệt của lao tù thực dân đã trở thành môi trường tôi luyện ý chí, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo của Trần Huy Liệu. Đây cũng là cơ sở quan trọng để sau khi được trả tự do vào năm 1945, ông nhanh chóng hòa mình vào cao trào kháng Nhật cứu nước, đảm nhận nhiều trọng trách của Đảng và Mặt trận Việt Minh, đóng góp tích cực vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong những giai đoạn tiếp theo.
Dấu ấn trong mùa Thu cách mạng năm 1945
Đồng chí Trần Huy Liệu là một trong những cán bộ lãnh đạo của Đảng trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị và có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Hồi ký "Đi dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào", ông viết: “Từ ngày vượt ngục Nghĩa Lộ về bắt liên lạc được với Đảng theo lệnh của Trung ương tôi vẫn làm việc ở Báo Cứu quốc cơ quan tuyên truyền của Tổng bộ Việt Minh từ làng Vạn Phúc chuyển về Thu Quế (thuộc Hà Đông). Đầu tháng 7-1945 một hôm anh Đan (Xuân Thủy) đi họp về báo cho tôi (Trần Huy Liệu) biết là tôi được cử đi hội nghị ở chiến khu. Tin ấy đến với tôi cũng hơi đột ngột, cố nhiên là tôi rất phấn khởi”[8].
Đồng chí Trần Huy Liệu được Trung ương Đảng và Ủy ban Khởi nghĩa giao đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng trong quá trình chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Một trong những đóng góp nổi bật của ông là trực tiếp soạn thảo Quân lệnh số 1 của Ủy ban Khởi nghĩa - văn kiện mang ý nghĩa lịch sử, phát lệnh phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Hồi ký của đồng chí Trần Huy Liệu ghi lại hoàn cảnh ra đời của văn kiện đặc biệt này như sau: “Đêm 13-8, trong một căn nhà lợp lá, tôi được đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) ủy quyền cho thảo bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa. Mặc dù ngồi dưới ngọn đèn tù mù những con tầm xuân, con thiêu thân bay quanh tới tấp, muỗi và dĩn thi nhau đốt làm tôi nhiều lúc nẩy người lên hay đập chân bành bạch, tôi vẫn say sưa nghĩ đến cảnh mất nước, dân nhục từ hơn tám mươi năm, nghĩ đến sự nghiệp cách mạng của mấy thế kỷ qua; những cuộc khởi nghĩa của Văn thân, của Việt Nam Quốc dân Đảng cho đến ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Mình được sung sướng làm cái việc “nửa đêm truyền hịch hẹn ngày xuất quân”... Bản Quân lệnh số 1 lúc ấy tôi thảo ra một mạch, đọc đi đọc lại vẫn không sửa chữa một chữ nào. Viết xong tôi trao cho anh Văn…”[9].
Qua lời kể của chính người trong cuộc, có thể thấy Trần Huy Liệu không chỉ trực tiếp tham gia vào quá trình chuẩn bị Tổng khởi nghĩa mà còn ý thức sâu sắc về ý nghĩa lịch sử của thời khắc dân tộc chuyển mình. Những dòng hồi ký vừa tái hiện không khí khẩn trương, quyết liệt của đêm trước Tổng khởi nghĩa, vừa thể hiện niềm xúc động, ý thức trách nhiệm và niềm tin mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng khi được giao soạn thảo văn kiện có ý nghĩa như một "hịch xuất quân" của toàn dân tộc. Đây đồng thời là nguồn tư liệu góp phần khẳng định vai trò và những đóng góp quan trọng của Trần Huy Liệu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Một dấu mốc quan trọng trong hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Huy Liệu là việc ông được bầu giữ cương vị Phó chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng (do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch)[10], tại Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) tháng 8-1945. Đây là cơ quan lãnh đạo tối cao của cách mạng Việt Nam trước khi Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi và sau là Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc được Đại hội tín nhiệm bầu vào cương vị này thể hiện uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và những đóng góp nổi bật của Trần Huy Liệu đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Hồi ký của đồng chí Trần Huy Liệu đã ghi lại những giờ phút trọng đại của Quốc dân Đại hội với nhiều chi tiết chân thực và xúc động: “Người giới thiệu tôi là đồng chí Tống, chỉ có cụ Hồ Chí Minh thì không cần phải ai giới thiệu cả. Ủy ban Dân tộc Giải phóng được bầu ra theo quyết định của đại hội, một khi cần thiết sẽ đổi thành Chính phủ Lâm thời. Ủy ban do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, còn tôi (Trần Huy Liệu - TG) làm Phó chủ tịch. Đến lượt Ủy ban Dân tộc Giải phóng làm lễ tuyên thệ trước đại hội và những giờ phút trang nghiêm nhất và cảm động nhất. Đồng thời đoàn đại biểu nhân dân địa phương gồm cả già trẻ, trai gái dắt một con bò và mang mấy sọt gạo đến mừng hội nghị, các ủy viên trong Ủy ban Dân tộc Giải phóng ra bắt tay với các đại biểu nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ vào một em bé cởi trần, truồng, bụng giun to tướng nói với các đại biểu: Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao cho các em bé như em bé này được có cơm ăn, áo mặc, khỏe mạnh và học hành”[11].
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Trần Huy Liệu được Trung ương Đảng và Chính phủ Lâm thời giao trọng trách làm Trưởng phái đoàn đại diện Chính phủ vào Huế “Tước ấn kiếm của Hoàng đế Bảo Đại”. Cùng tham gia phái đoàn có các đồng chí Nguyễn Lương Bằng[12] và Cù Huy Cận[13]. Ngày 30-8-1945, tại lễ thoái vị của vua Bảo Đại tại Ngọ Môn (Huế), đồng chí Trần Huy Liệu thay mặt Chính phủ Lâm thời tiếp nhận ấn kiếm của triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Đây không chỉ là một nghi lễ chuyển giao quyền lực mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc mà còn là dấu mốc khẳng định thắng lợi hoàn toàn của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Hình ảnh đồng chí Trần Huy Liệu đón nhận ấn kiếm từ vị hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào lịch sử như biểu tượng của sự sụp đổ chế độ quân chủ và sự ra đời của chính quyền cách mạng do nhân dân làm chủ.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí Trần Huy Liệu tiếp tục được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng, như: Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền[15] trong Chính phủ lâm thời; Bí thư Tổng bộ Việt Minh; Đại biểu Quốc hội (khóa I, II, III), Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội, Tổng thư ký Ủy ban Thường trực Quốc hội[16]; Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc, Cục trưởng Cục Chính trị Quân sự ủy viên hội, Chủ tịch Ủy ban vận động đời sống mới và nhiều cương vị lãnh đạo khác. Trên mỗi cương vị công tác, đồng chí luôn thể hiện phẩm chất của người cán bộ cách mạng tận tụy, trách nhiệm, hết lòng phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ông đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa mới và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.
Người mở đường cho sử học cách mạng Việt Nam
Bên cạnh vai trò là một nhà hoạt động cách mạng và chính trị xuất sắc, đồng chí Trần Huy Liệu còn là một nhà văn hóa, nhà báo tiêu biểu của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX. Trước khi trở thành một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, ông đã sớm khẳng định tên tuổi trên văn đàn và báo giới với nhiều bài chính luận, tác phẩm văn học và thơ ca giàu tinh thần yêu nước, phản ánh khát vọng độc lập dân tộc và cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh chống thực dân, phong kiến. Đối với Trần Huy Liệu, báo chí không chỉ là một nghề nghiệp mà trước hết là một vũ khí đấu tranh chính trị, một phương tiện truyền bá tư tưởng yêu nước và thức tỉnh ý thức dân tộc.
 |
| Giáo sư Trần Huy Liệu (thứ hai từ trái sang) tại Đại hội thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam năm 1966. |
Đánh giá về sự nghiệp báo chí của Trần Huy Liệu, Giáo sư Văn Tân nhận xét: “Trần Huy Liệu vào nghề làm báo với khí phách và nhiệt tình của một chiến sĩ đấu tranh không biết mệt mỏi vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Chính vì vậy mà các báo trong đó anh là một trụ cột đều lần lượt bị đóng cửa. Nông cổ mín đàm, Đông Pháp thời báo, Pháp Việt nhất gia, Kiến văn, Hồn trẻ, Tiếng trẻ, Tân xã hội, Thời báo, Thời thế, Tin tức, Đời nay lần lượt xuất hiện trong một thời gian dài đến mười lăm năm nhưng cuối cùng đã chịu chung một số phận: Bị chính quyền của thực dân Pháp đóng cửa”[17]. Nhận định của Giáo sư Văn Tân đã khái quát khá đầy đủ đặc điểm nổi bật trong sự nghiệp báo chí của Trần Huy Liệu. Chính quá trình hoạt động bền bỉ ấy đã góp phần khẳng định vị trí của Trần Huy Liệu như một trong những gương mặt tiêu biểu của nền báo chí yêu nước Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho những đóng góp của ông trên các lĩnh vực cách mạng, văn hóa và sử học về sau.
Ông từng làm chủ bút nhiều tờ báo bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, tham gia sáng lập các nhà xuất bản, thư xã tiến bộ, đồng thời viết hàng trăm bài báo có giá trị. Với ngòi bút sắc bén và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, Trần Huy Liệu đã góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của dòng báo chí yêu nước, cách mạng Việt Nam, trở thành một trong những người đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Không chỉ là nhà hoạt động cách mạng xuất sắc, Trần Huy Liệu còn là một trong những người đặt nền móng cho nền khoa học lịch sử cách mạng Việt Nam. Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông được giao phụ trách công tác nghiên cứu lịch sử, văn hóa và khoa học xã hội. Là Trưởng ban Nghiên cứu Sử Địa Văn (sau gọi là Văn Sử Địa, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động, sau đó là Viện trưởng Viện Sử học, Chủ nhiệm Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Hội trưởng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đồng chí đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ nghiên cứu sử học, tổ chức các hoạt động khảo cứu, sưu tầm tư liệu và biên soạn lịch sử dân tộc.
Bản lĩnh của nhà hoạt động chính trị cùng với sự sắc sảo, tinh tế của nhà báo đã để lại dấu ấn đậm nét trong tính cách và toàn bộ sự nghiệp sử học của Trần Huy Liệu, lĩnh vực mà ông dành toàn bộ tâm huyết và thời gian từ khi ông được Đảng giao trọng trách Trưởng ban Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa. Với tư cách là Trưởng ban Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, kiêm Phó ban Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Viện trưởng Viện Sử học, Chủ nhiệm và Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Trần Huy Liệu không chỉ là người tổ chức, chỉ đạo công tác nghiên cứu lịch sử mà còn để lại một khối lượng công trình sử học đồ sộ và có giá trị.
Đánh giá về những cống hiến của Trần Huy Liệu đối với sử học nước nhà, Giáo sư Văn Tân viết: “Trần Huy Liệu là nhà sử học “bẩm sinh”. Anh thích sử học ngay từ khi anh chưa chính thức làm công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc. Đến khi công tác sử học trở thành nghiệp vụ của anh, Trần Huy Liệu yêu sử học Việt Nam đến say sưa, và đã cống hiến rất nhiều cho nền sử học đó. Giới sử học đã nhìn nhận sự thật ấy. Cho nên ngày 5-11-1966 khi mừng ngày sinh nhật thứ 65 của anh, giới sử học đã ghi vào một quyển album tặng anh dòng chữ mang một tình cảm chân thành đối với anh: “Tặng đồng chí Trần Huy Liệu, người anh cả của giới sử học nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”[18].
Đánh giá của Giáo sư Văn Tân không chỉ phản ánh sự ghi nhận của giới nghiên cứu đối với những đóng góp của Trần Huy Liệu mà còn khẳng định vị thế đặc biệt của ông trong quá trình xây dựng nền sử học cách mạng Việt Nam. Danh xưng “người anh cả của giới sử học nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là sự tôn vinh xuất phát từ thực tiễn hoạt động khoa học và uy tín học thuật của ông, đồng thời cho thấy vai trò dẫn dắt của Trần Huy Liệu trong việc tập hợp đội ngũ nghiên cứu, tổ chức các hoạt động khoa học và định hướng nghiên cứu lịch sử dân tộc trong giai đoạn đầu xây dựng nền sử học mới. Những công trình nghiên cứu, bài viết và hoạt động tổ chức khoa học của ông đã góp phần quan trọng vào việc khẳng định vị trí của lịch sử dân tộc trong đời sống học thuật và phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.
Di sản còn mãi với non sông đất nước
Di sản khoa học của đồng chí Trần Huy Liệu rất phong phú, bao gồm hồi ký, nhật ký, thư từ, các bài nghiên cứu và nhiều công trình chuyên khảo có giá trị. Trong số đó, nổi bật là các tác phẩm như Lịch sử tám mươi năm chống Pháp, Lịch sử Thủ đô Hà Nội, Nguyễn Trãi, Tài liệu tham khảo lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam[19]... Đặc biệt, bộ Lịch sử tám mươi năm chống Pháp gồm 2 quyển, 3 tập là công trình có giá trị khoa học cao, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Bên cạnh các công trình chuyên khảo, ông còn công bố hàng trăm bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học và tại các hội thảo chuyên ngành. Nội dung các bài viết trải rộng trên nhiều lĩnh vực như lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, ngoại giao và quân sự, phản ánh tầm hiểu biết sâu rộng cùng những đóng góp quan trọng của ông đối với nền khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam. Dù hoạt động trên lĩnh vực nào, ông cũng luôn đặt lợi ích của dân tộc, của đất nước lên trên hết. Cuộc đời của ông là minh chứng sinh động cho vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức yêu nước đối với vận mệnh quốc gia.
Với những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, văn hóa và khoa học của đất nước, đồng chí Trần Huy Liệu đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Giải thưởng Hồ Chí Minh... Không chỉ được ghi nhận trong nước, những đóng góp của ông còn được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Năm 1963, ông được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức trao tặng Huân chương Humboldt và được bầu làm Viện sĩ Thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Dân chủ Đức. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp quan trọng của đồng chí trên cả lĩnh vực cách mạng và nghiên cứu khoa học.
Hơn nửa thế kỷ kể từ khi đồng chí qua đời, những cống hiến của Trần Huy Liệu vẫn giữ nguyên giá trị. Tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí đấu tranh kiên cường, bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm trước dân tộc cùng khát vọng cống hiến không ngừng nghỉ của ông tiếp tục là nguồn cảm hứng cho các thế hệ cán bộ, đảng viên, trí thức và nhân dân hôm nay.
Nhìn toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp đồng chí Trần Huy Liệu chúng ta có thể thấy ông là mẫu hình tiêu biểu của lớp trí thức yêu nước đầu thế kỷ XX, từ một nhà báo yêu nước trở thành người chiến sĩ cộng sản, nhà lãnh đạo cách mạng, nhà văn hóa và người đặt nền móng cho nền sử học cách mạng Việt Nam. Cuộc đời ông phản ánh sinh động quá trình chuyển biến của tầng lớp trí thức Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, từ hoạt động báo chí công khai đến sự nghiệp cách mạng và nghiên cứu khoa học xã hội.
Đồng chí Trần Huy Liệu là một trong những nhà cách mạng tiền bối, tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam, người có nhiều cống hiến nổi bật trên các lĩnh vực cách mạng, báo chí, văn hóa và sử học. Cuộc đời hoạt động phong phú của ông gắn liền với những bước ngoặt quan trọng của lịch sử dân tộc, từ phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến công cuộc xây dựng nền văn hóa và sử học cách mạng Việt Nam. Những đóng góp to lớn cùng di sản tư tưởng, khoa học và văn hóa mà đồng chí Trần Huy Liệu để lại không chỉ có giá trị đối với lịch sử dân tộc mà còn tiếp tục là nguồn cảm hứng, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cống hiến và trách nhiệm của các thế hệ hôm nay và mai sau đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh đồng chí Trần Huy Liệu là dịp để chúng ta thêm tự hào về một người con ưu tú của quê hương Nam Định (nay là Ninh Bình), một nhà cách mạng tiền bối, tiêu biểu của Đảng và dân tộc ta. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần phụng sự Tổ quốc, ý thức trách nhiệm trước lịch sử và nhân dân. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, tuyên truyền và phát huy những giá trị di sản mà đồng chí Trần Huy Liệu để lại không chỉ góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước, mà còn khơi dậy ý chí vươn lên, khát vọng cống hiến vì mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
[1] Hồi ký Trần Huy Liệu viết: “Tháng 8-1929, tôi lại bị bắt về vụ Việt Nam Quốc dân Đảng với cái án 5 năm tù và đày đi Côn Đảo. Cho đến cuối năm 1934 mãn hạn tù về…” (Viện Sử học, Hồi ký Trần Huy Liệu, tr.218). Ban Ám sát của Việt Nam Quốc dân Đảng đã gây ra mấy vụ trừ gian làm khiếp đảm dư luận. Đó là vụ ám sát Bùi Tiến Mai tay sai mật thám Pháp ngày 3-8-1929 trên đê Thái Bình, nhưng Mai chỉ bị thương nặng. Vụ trừ khử Nguyễn Văn Kính, kẻ đã báo rất nhiều tên tuổi của đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng để Pháp bắt giữ hàng loạt vào tháng 8-1929. Ngày 6-10-1929, Đoàn Trần Nghiệp (tức Ký Con) đã bắn chết Nguyễn Văn Kính trong vườn Bách thảo Hà Nội găm một dao găm vào ngực kẻ phản bội với tờ giấy ghi chữ: “Vì không giữ lời thề”.
[2] Viện Sử học, Trần Huy Liệu với sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr.11.
[3] Viện Sử học, Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.89.
[4] Trần Huy Liệu, Dưới hầm Sơn La (Hồi ký), in trong Hồi ký Trần Huy Liệu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.253-254. “Thực dân Pháp phái Cút-xô (Cousseau) làm Công sứ để đối phó với các chính trị phạm. Cút-xô là một tên mật thám lành nghề, đã làm việc tại Phòng Chính trị của tô giới Pháp tại Thượng Hải và làm Giám đốc Sở Thông tin và Báo Chí ở Hà Nội. Hồi phong trào Mặt trận Bình dân, Cút-xô làm quyền Công sứ tỉnh Hưng Yên, sau đó làm Trưởng phòng Địa chính tỉnh Hà Đông. Lúc ở Hà Đông, Cút-xô đã trưng thu tất cả những ruộng của các đền chùa, trong đó có cả những ruộng hậu của các tư nhân, giao cho Nông phố ngân hàng. Việc làm này của Cút-xô đã bị nhân dân Hà Đông phản đối, gửi bài đăng trên báo Đời nay, cơ quan ngôn luận của nhóm cộng sản công khai, và biểu tình thị uy. Tôi (Trần Huy Liệu) lúc ấy phụ trách báo Đời nay…” (Trần Huy Liệu, hồi ký Dưới hầm Sơn La).
[5] Được ông viết trong hồi ký Dưới hầm Sơn La, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961.
[6] Trần Huy Liệu, Dưới hầm Sơn La: Từ 13/5/1941 đến 24/5/1941: Hồi ký, Sđd, tr.11-12.
[7] Viện Sử học, Trần Huy Liệu với sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr.277.
[8] Viện Sử học, Hồi ký Trần Huy Liệu, Sđd, tr.344.
[9] Viện Sử học, Hồi ký Trần Huy Liệu, Sđd, tr.354.
[10] Lịch sử Chính phủ Việt Nam, tập 1: 1945-1955, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.34.
[11] Viện Sử học, Hồi ký Trần Huy Liệu, Sđd, tr.357.
[12] Thay mặt cho Mặt trận Việt Minh
[13] Trần Huy Liệu, Tước ấn kiếm của hoàng đế Bảo Đại, Hồ sơ số 147 phông Trần Huy Liệu - Lưu trữ Viện Sử học, Hà Nội, 1960.
[14] Hồi ký Trần Huy Liệu, Sđd, tr.371.
[15] Sau là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời. Lịch sử Chính phủ Việt Nam, tập 1, Sđd, tr.53.
[16] Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập 1 (1945 - 1960), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.1529.
[17] Dẫn theo Văn Tân in trong: Trần Huy Liệu, Thơ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr.7-8.
[18] Giáo sư Văn Tân, Lời giới thiệu sách: Trần Huy Liệu, Thơ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1977, tr.8.
[19] Viện Sử học, Trần Huy Liệu với sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2011, tr.13.