Sự phát triển, ứng dụng KH&CN thời gian qua đã góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm an ninh và quốc phòng... Giá trị sản phẩm công nghệ cao (CNC) và sản phẩm ứng dụng CNC đã đóng góp ngày càng nhiều vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giai đoạn 2011-2013 với tỷ trọng theo các năm lần lượt là: 11,7%; 19,1%; 28,7%. Trong lĩnh vực công nghiệp, ta đã làm chủ công nghệ tiên tiến về đóng tàu trong các chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước và công nghệ lắp ráp các cần cẩu siêu trường, siêu trọng; sản xuất được các loại thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy thủy điện (kể cả nhà máy thủy điện lớn như Thủy điện Sơn La); dây chuyền thiết bị cho nhà máy cán thép xây dựng, xi măng, chế biến mủ cao su...; chế tạo thành công giàn khoan tự nâng có độ sâu đến 90m nước lần đầu tiên tại Việt Nam thay thế cho nhập khẩu sản phẩm này từ nước ngoài; ứng dụng kỹ thuật nguyên tử đánh dấu xác định trữ lượng vỉa dầu trong lĩnh vực khai thác dầu khí... Đối với lĩnh vực nông nghiệp, đã tạo ra 142 giống cây trồng mới có chất lượng, năng suất cao; nhất là các giống cao sản; bảo đảm gieo trồng cho hơn 90% diện tích lúa, 80% diện tích ngô; 60% diện tích mía, 100% diện tích điều. 69 giống lúa mới hiện gieo trồng canh tác tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long với hơn 1,63 triệu héc-ta cho năng suất cao hơn các giống cũ 10%, đạt 4,86 tấn/ha, làm tăng sản lượng thêm 500.000 - 790.000 tấn, làm lợi cho bà con nông dân khoảng 1.200 - 1.900 tỷ đồng. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, việc ứng dụng KH&CN cũng đã giúp ta làm chủ được hầu hết công nghệ sản xuất giống các loài cá nước ngọt cùng một số loài hải sản giá trị cao, giúp thủy sản trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn.

Ảnh minh họa. 

Bên cạnh những thành công, đánh giá tổng quát kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội XI (2011-2015) và nhìn lại 30 năm đổi mới (1986-2016) cho thấy trong lĩnh vực KH&CN cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém; việc tạo nền tảng để nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được mục tiêu đề ra. Đánh giá giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua cũng chỉ ra, KH&CN hiện chưa đáp ứng được yêu cầu là động lực và nền tảng cho phát triển KT-XH; các thành tựu KH&CN chậm đi vào cuộc sống để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa. Trình độ KH&CN quốc gia hiện nay nhìn chung còn tụt hậu xa so với thế giới, kể cả với một số nước nhóm đầu trong khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt là KH&CN nước ta chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới. Phần lớn doanh nghiệp nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ...

Để KH&CN xứng đáng là động lực trong phát triển KT-XH đất nước, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước như phương hướng, nhiệm vụ phát triển và ứng dụng KH&CN mà Đại hội lần thứ XII của Đảng đề ra, đến năm 2020 phải đạt trình độ phát triển của các nhóm dẫn đầu ASEAN; năm 2030 có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới...; việc triển khai đồng bộ, mạnh mẽ các giải pháp phát triển KH&CN những năm tới cần được chú trọng. Trước hết là phải đánh giá đầy đủ về hiệu quả hoạt động của ngành KH&CN; nhất là ứng dụng KH&CN với nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động, sản xuất. Trên cơ sở đó ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích, phát triển doanh nghiệp KH&CN, cơ sở ươm tạo CNC cũng như xây dựng các phương án tái cấu trúc ngành KH&CN; sắp xếp lại hệ thống các nhiệm vụ, đề tài KH&CN để đề ra các giải pháp thúc đẩy năng lực chế tạo và tiếp thu công nghệ. Việc tập trung các nguồn lực để phát triển KH&CN chủ yếu; thị trường KH&CN; hoạt động dịch vụ KH&CN; doanh nghiệp KH&CN; gắn kết các chương trình, nhiệm vụ KH&CN phục vụ cho phát triển đất nước cũng cần được tập trung giải quyết. Các bộ, ngành, địa phương cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả hợp tác, đầu tư, nhất là trong các ngành công nghiệp, công nghệ cơ khí, công nghiệp hỗ trợ từ các nước phát triển; kết nối đầu tư, doanh nghiệp; mở rộng hợp tác quốc tế về KH&CN để tạo đà phát triển cho địa phương.

Cùng với đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động KH&CN phù hợp với thực tế để thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng KH&CN, khu CNC...; việc mở rộng phát triển hạ tầng KH&CN rộng khắp thay vì chỉ ưu tiên tập trung cho 4 vùng kinh tế trọng điểm như hiện nay cần sớm được tháo gỡ. Đi đôi với nâng cao nguồn nhân lực, nhất là các lĩnh vực trọng yếu, mũi nhọn, lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế, Quốc hội cần sớm thông qua luật về công nghiệp hỗ trợ để tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất công nghiệp Việt Nam phát triển, giúp mục tiêu CNH, HĐH đất nước mà Đảng, Nhà nước ta đề ra sớm được hoàn thành theo như kỳ vọng.

HOÀNG GIA