Năm 2003, Liên hợp quốc đã đưa ra Công ước chống tham nhũng. Việt Nam là một trong hơn 100 quốc gia đã tham gia phê chuẩn công ước này. Tham nhũng được xác định là một trong bốn nguy cơ, thách thức sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết và các văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN), lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, đồng thời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu phải kiên quyết, kiên trì PCTN, lãng phí; chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí. PCTN chính là một trong chín nội dung được Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định ưu tiên giải quyết.

Công cuộc PCTN ở Việt Nam hiện nay đang chủ yếu thực hiện thông qua 3 nhóm cơ chế: 1) Công tác kiểm tra và tự kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước; 2) Hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát; 3) Qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng (Luật PCTN, 2012). Hiện nay, vấn đề đặt ra là tại sao tham nhũng vẫn có chiều hướng gia tăng và kết quả PCTN vẫn còn nhiều hạn chế? Phải chăng công cuộc PCTN ở Việt Nam chưa phát huy được sự tham gia đông đảo và có hiệu quả của các giai tầng xã hội, nhất là các vấn đề tâm lý xã hội; đặc biệt là dư luận xã hội.

Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội, thể hiện tư duy, quan điểm, tình cảm, sự phán xét, đánh giá của các nhóm xã hội đối với một vấn đề nào đó liên quan đến đời sống của họ. Dư luận xã hội hình thành thông qua trao đổi, thảo luận ý kiến công khai. Tiếp cận dư luận xã hội ở góc độ thiết chế xã hội tức là tìm hiểu chức năng khuyến khích, điều chỉnh, điều hòa hành vi của con người phù hợp với quy phạm và chuẩn mực của thiết chế và tuân thủ thiết chế. Đồng thời, ngăn chặn, kiểm soát, giám sát những hành vi lệch lạc do thiết chế xã hội quy định. Đề cao vai trò của dư luận xã hội trong PCTN, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Thực hiện cơ chế giám sát của công chúng và dư luận xã hội. Nghiên cứu để có những hình thức phù hợp, mở rộng phạm vi tham gia của công chúng trong công tác PCTN, tăng cường sự giám sát của công chúng đối với việc thực thi quyền lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Có các giải pháp phù hợp để nhân dân phản ánh, tố giác tham nhũng với các cơ quan nhà nước, như: Tổ chức tốt công tác tiếp dân, mở hộp thư điện tử, lập đường dây nóng... Nếu không dựa vào dân thì cuộc chiến chống tham nhũng khó có thể thành công. Đó là cách để hướng đến xây dựng một xã hội: “Không cần tham nhũng; không thể tham nhũng; không dám tham nhũng” ở Việt Nam.

Với tư cách là một thiết chế xã hội, dư luận xã hội có chức năng góp phần tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về đấu tranh PCTN; đồng thời động viên, khuyến khích, ủng hộ công cuộc PCTN. Không những vậy, dư luận xã hội còn thúc đẩy mỗi người dân thực hành liêm, chính, khuyến khích xã hội tích cực tham gia ngăn ngừa các hành vi tham nhũng; có chức năng phê phán hiện tượng tham nhũng, góp phần chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng tham nhũng và những hậu quả xã hội của các hành vi tham nhũng. Bên cạnh đó, dư luận xã hội còn có chức năng phản ánh và hướng dẫn hành động của các cá nhân và nhóm xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới trong đấu tranh PCTN. Với các đặc tính: Công chúng, công khai, lợi ích và lan tỏa nhanh, dư luận xã hội trong trường hợp này có thể ngay lập tức lôi cuốn được sự ủng hộ của đông đảo công chúng đối với công cuộc PCTN. Các hình thức được người dân ở các nước sử dụng rộng rãi trong PCTN gồm: Giám sát trực tiếp các hoạt động; tổ chức hệ thống cập nhật hồ sơ về các vị trí và cá nhân công chức, các nhà chính trị; các hình thức bất tuân thủ dân sự; tẩy chay dân sự; tạo lập các mạng lưới thông qua internet...

Thông qua thiết chế dư luận xã hội, người dân sẽ có khả năng tự tin hơn trong việc tố cáo các hành vi tham nhũng, giúp giám sát hoạt động của cơ quan chức năng. Báo cáo trước Quốc hội về công tác PCTN năm 2013, Tổng Thanh tra Chính phủ cho biết: Việc phát hiện tham nhũng chủ yếu qua dư luận xã hội, báo chí phản ánh. Nghiên cứu của Ban Nội chính Trung ương cũng cho thấy: Kênh thông tin quan trọng-dư luận xã hội cho thấy có 59,8% người dân; 72,05% cán bộ doanh nghiệp và 74,3% cán bộ công chức nhận biết tham nhũng và tham gia hoạt động PCTN. Kết quả khảo sát của Viện Khoa học thanh tra, trực thuộc Thanh tra Chính phủ công bố, có 73,3% ý kiến người dân và 66,9% ý kiến của đối tượng cán bộ, công chức cho rằng, có tiêu cực xảy ra trong việc triển khai các dự án xóa đói, giảm nghèo...

Tuy nhiên, từ góc độ thiết chế dư luận xã hội cũng đang gặp phải những giới hạn trong thực hiện chức năng phát hiện, phản ánh, cung cấp thông tin về tham nhũng. Sự giới hạn này bắt nguồn từ chính quan niệm và triết lý sống của người dân là mong muốn được sống yên bình. Hơn nữa, văn hóa ứng xử của phần lớn người Việt vẫn rất nặng chữ “tình”, chuộng sự yên hàn, nhàn nhã, “trong ấm ngoài êm”. Đây là nguyên nhân tạo ra sự thờ ơ, sự yếm thế, chạy trốn khỏi những đấu tranh, xung đột. Đó là thái độ “dĩ hòa vi quý”, “sống chết mặc bay”...

Trong điều kiện cuộc chiến chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước đã nhiều lần khẳng định: Việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng của một số cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu. Trong khi đó, hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách về PCTN còn hạn chế… thì dư luận xã hội có vai trò tư vấn, thúc đẩy cán bộ và cơ quan thực thi pháp luật về PCTN có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn trong giải quyết, xử lý, trừng phạt các hành vi tham nhũng. Không chỉ là một kênh thông tin quan trọng trong công tác PCTN, dư luận xã hội còn là công cụ hữu hiệu thúc đẩy việc xem xét, xử lý nhanh, đúng pháp luật hành vi tham nhũng, là phương tiện góp phần bảo đảm hiệu quả trong hoạt động PCTN. Trên thực tế, chính nhân dân và dư luận xã hội là trợ thủ đắc lực cho các cơ quan công quyền trong đấu tranh PCTN; tạo áp lực xã hội yêu cầu việc thực thi các biện pháp PCTN phải được vận hành một cách tích cực và có những kết quả rõ ràng. Ngoài ra, dư luận xã hội còn có tác dụng cảnh báo, gây áp lực, răn đe cá nhân và tổ chức, nhóm xã hội có nguy cơ tham nhũng; góp phần ngăn ngừa nảy sinh tham nhũng... Theo đó, để có những luồng dư luận xã hội tích cực, tránh được các tin đồn, tâm trạng xã hội tiêu cực, cần coi trọng xây dựng và phát huy các giá trị và chuẩn mực xã hội trong cộng đồng. Các giá trị và chuẩn mực luôn có đặc tính là cần được sự chia sẻ rộng rãi của cộng đồng, được tích tụ dần dần và vững chắc theo thời gian và do vậy, cho dù không được thể hiện bằng các văn bản pháp quy, nhưng lại có tính bền vững, có tác động sâu rộng và lâu dài. Hiển nhiên, với các tính chất như vậy, người dân, với tư cách là thành viên của cộng đồng, không chỉ có ưu thế mà còn chính là chủ thể của việc tạo dựng, gìn giữ và lưu truyền các giá trị và chuẩn mực này.

Từ hướng tiếp cận nêu trên, để đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống nói chung, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu PCTN nói riêng cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp phát huy vai trò của dư luận xã hội. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về PCTN trong nhân dân, đặc biệt đề cao trên thực tế quyền và trách nhiệm làm chủ của nhân dân trong cuộc đấu tranh PCTN. Cần bảo đảm cho người dân quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ theo quy định của pháp luật; tổ chức các kênh để mọi người dân trong xã hội có thể tham gia đóng góp ý tưởng, sáng kiến thiết thực về PCTN.

Các cơ quan chức năng, cơ quan công quyền, tổ chức nghiên cứu cần coi trọng và xem xét tất cả thông tin từ dư luận xã hội về tham nhũng và PCTN. Thiết lập và công khai tổ chức các hòm thư góp ý, đường dây điện thoại nóng để tiếp nhận các phản ánh và xử lý đơn thư tố cáo về tham nhũng. Từ các hòm thư và đường dây điện thoại nóng thu thập được nhiều thông tin có giá trị, kịp thời ngăn chặn các hành vi tham nhũng và có biện pháp xử lý kịp thời. Các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần thực hiện thông báo công khai, kịp thời, đầy đủ kết quả đấu tranh PCTN, nhất là những vụ việc được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Một giải pháp quan trọng nữa là phải có quyết tâm chính trị nhằm xây dựng văn hóa PCTN trong toàn hệ thống chính trị và toàn dân. Coi trọng giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội về nhân cách, đạo đức, lối sống, trong đó coi chống tham nhũng là một giá trị xã hội, không chấp nhận hành vi tham nhũng. Nâng cao, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sạch, nhằm ngăn ngừa, cô lập, loại bỏ kẻ tham nhũng ngay từ trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư. Tại các cộng đồng thôn, bản, tổ dân phố cần tiến hành xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước để người dân tự giác nhận trách nhiệm tham gia xây dựng cộng đồng trong sạch, trong đó có PCTN. Tăng cường nhân rộng điển hình và bảo vệ những người hăng hái, dũng cảm đấu tranh PCTN. Tôn vinh, khen thưởng về tinh thần và vật chất cho người có công trong PCTN...

TS ĐỖ VĂN QUÂN (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)