Sau 38 năm tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế-xã hội, sức mạnh tổng hợp quốc gia được nâng lên rõ rệt. Kinh tế tăng trưởng cao liên tục, trong 30 năm đầu cải cách mở cửa, bình quân hằng năm luôn đạt mức 9-10%, quy mô kinh tế lần lượt vượt qua Đức (năm 2008), Nhật Bản (năm 2010), vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Hoa Kỳ, được mệnh danh là “công xưởng thế giới”.
Năm 2015, tổng giá trị GDP đạt 67.700 tỷ NDT (khoảng 10.800 tỷ USD), tăng 6,9%; GDP tính theo đầu người khoảng 8.016 USD. Trung Quốc hiện là nước đứng đầu thế giới về thương mại và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (năm 2015, ngoại thương đạt hơn 3.960 tỷ USD, giảm 8%; thu hút FDI thực tế đạt 126,3 tỷ USD; đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ODI đạt 118 tỷ USD).
Khoa học kỹ thuật của Trung Quốc thời gian qua đã phát triển vượt bậc, đặc biệt trên các lĩnh vực hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin, vật liệu mới, hải dương học, kỹ thuật quân sự.
Cơ sở hạ tầng phát triển nhanh chóng, trong đó đường sắt cao tốc rất phát triển với tổng chiều dài lên tới gần 19.000km (chiếm hơn 60% tổng chiều dài đường sắt cao tốc toàn thế giới); tổng chiều dài đường bộ cao tốc đạt trên 120.000km.
Văn hóa giáo dục được đầu tư mạnh (đều xấp xỉ 4% GDP) và đạt nhiều thành tựu nổi bật.
Năm 2016, Trung Quốc xác định mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 6,5-7%; chỉ số CPI tăng khoảng 3%; tạo thêm trên 10 triệu việc làm ở thành thị, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 4,5%; xuất nhập khẩu tăng trưởng ổn định trở lại; cán cân thanh toán quốc tế cơ bản cân bằng; mức tăng thu nhập của người dân cơ bản ngang bằng với tốc độ phát triển kinh tế; mức tiêu thụ năng lượng trên đơn vị GDP giảm trên 3,4%; lượng phát thải các chất gây ô nhiễm chủ yếu tiếp tục giảm.
Thời gian qua, quan hệ Việt-Trung tuy vẫn có những tồn tại, bất cập và hạn chế song về tổng thể duy trì xu thế ổn định và có tiến triển nhất định trên một số lĩnh vực, đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên.
Giao lưu và tiếp xúc cấp cao thường xuyên được duy trì, dưới các hình thức linh hoạt, góp phần tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác thiết thực, đưa quan hệ hai nước phát triển lành mạnh và ổn định.
Từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay, quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển với tốc độ cao. Hiện Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Việt Nam hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 và là thị trường nhập khẩu lớn thứ 11 của Trung Quốc. Kim ngạch thương mại song phương trong 10 tháng năm 2016 đạt 57,6 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2015; trong đó Việt Nam xuất khẩu 17,3 tỷ USD, tăng 24%; nhập khẩu 40,2 tỷ USD, giảm 1,4%.
Về đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, lũy kế đến tháng 10-2016, Trung Quốc (không kể Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao) có 1.522 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 10 tỷ USD, đứng thứ 9 trong số 116 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong 10 tháng năm 2016, Trung Quốc có 235 dự án đầu tư mới tại Việt Nam với số vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt 1,2 tỷ USD. Đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung ở lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất, phân phối điện, khí, nước…
Hợp tác văn hóa được thúc đẩy tích cực. Hợp tác giáo dục tiếp tục được tăng cường.
Trung Quốc đứng đầu về lượng du khách nước ngoài đến Việt Nam. 10 tháng năm 2016 có hơn 2,2 triệu lượt người Trung Quốc đến Việt Nam (tăng 55,2% so với cùng kỳ năm 2015).
Về tình hình Biển Đông, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước đã nhiều lần trao đổi và đạt được nhận thức chung quan trọng về việc giải quyết thỏa đáng bất đồng và tranh chấp trên biển trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế.
Hai bên nhất trí thực hiện tốt các nhận thức chung và thỏa thuận cấp cao, "Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc”; sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt-Trung; kiên trì thông qua trao đổi và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được; tích cực bàn bạc các giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên; nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; thực hiện đầy đủ và hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), thúc đẩy sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC), giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Chuyến thăm chính thức nước CHND Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa hết sức quan trọng để định hướng phát triển cho quan hệ Việt-Trung, củng cố, duy trì cục diện hữu nghị, ổn định, tạo đà phát triển lành mạnh cho quan hệ giữa hai nước.
Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, chuyến thăm chính thức nước CHND Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thành công tốt đẹp, mở ra một trang mới trong quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với CHND Trung Hoa.
QĐND