Trước đây, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có đưa ra một yêu cầu rất cụ thể: Triển khai phân luồng và định hướng nghề nghiệp ở giáo dục phổ thông; phân loại các cơ sở giáo dục đại học theo hướng nghiên cứu, ứng dụng và thực hành. Tuy nhiên, trên thực tế, tình hình phân luồng học sinh trung học cơ sở (THCS) và phân loại cơ sở giáo dục không hề đơn giản. Để triển khai thực hiện hiệu quả định hướng về phát triển giáo dục trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, thiết nghĩ những hạn chế, bất cập của vấn đề nêu trên cần được nhận diện và có giải pháp điều chỉnh phù hợp. Trong bài viết này, chúng tôi xin bàn về phân luồng học sinh (HS) sau THCS.
Trong một hội nghị về việc phân luồng sau THCS được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tổ chức vào cuối năm 2015, số liệu được chính những người trong ngành cung cấp khiến xã hội chú ý: Chỉ có 2% học sinh tốt nghiệp THCS theo học nghề!
Cụ thể là từ các năm học: 2010-2011, 2011-2012, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào Trung học Phổ thông (THPT) chiếm hơn 70%; THCS tham gia bổ túc THPT hơn 8%. Và thực tế, chỉ có khoảng 1,8% đến 2% học sinh tốt nghiệp THCS vào học trung cấp chuyên nghiệp (TCCN). Ở nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có khoảng 1,3% đến 1,4% học sinh tốt nghiệp THCS vào học TCCN. Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga, việc phân luồng hiện vẫn đang hết sức khó khăn. Điều này gây áp lực rất lớn cho các trường cao đẳng và đại học. Ngược lại, các trường TCCN, trường dạy nghề tuyển sinh vô cùng vất vả vì không có người học.
Đối với cấp THCS, một trong những nguyên nhân là phân luồng thiếu cơ sở thực tiễn, tức là sự phân luồng không xuất phát từ điều kiện kinh tế và văn hóa của địa phương mà từ chủ trương thuần túy và chỉ tiêu mệnh lệnh.
Theo các nhà khoa học, cần phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực của cả nước cũng như của từng vùng, từng địa phương, phù hợp với nhu cầu nhân lực về cơ cấu ngành nghề và trình độ trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nếu không có chiến lược này thì không có cơ sở thực tiễn để phân luồng hợp lý. Nguyên Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận còn nói rằng: "Nếu chỗ tuyển dụng nào cũng đòi hỏi phải tốt nghiệp đại học, có bằng thạc sĩ... thì dù có tuyên truyền, vận động và đổi mới hoạt động của các trường trung cấp cách mấy cũng không thu hút được học sinh vào học nghề và việc phân luồng vẫn không có lối thoát!".
Bài toán khó nhất của việc phân luồng là sự thất bại trong việc đưa học sinh sang học nghề. Gia đình các em tìm mọi cách để con mình được học một trường đại học dù các em không thích. Và hệ lụy là việc các em “ngồi nhầm chỗ” ở đại học tự mình tìm con đường đi sau khi tiêu tốn của gia đình không ít tiền bạc. Các em vui vẻ rời khỏi trường mình học với số điểm tích lũy bằng 0 đã chứng minh rằng, chúng ta không thể nghĩ tới những điều đơn giản chỉ vì quy hoạch kinh tế-xã hội của địa phương hay nhận thức cá nhân của một bộ phận người dân. Nằm trong những nền tảng sâu xa nhất, các vấn đề thuộc về văn hóa và tâm lý dân tộc mới chính là mẫu số chung của các hiện tượng vừa nêu.
Trong văn hóa giao tiếp và ứng xử với môi trường xã hội, người Việt Nam có thói quen “trọng danh”, thích có “thân phận”, yên ổn công tác. Điều này có nguồn gốc từ trong nền văn hóa nông nghiệp lúa nước suốt 10 thế kỷ dựng nước. Trên con đường hiện đại hóa suốt thế kỷ 20 và bước sang thế kỷ 21, nhiều bậc cha mẹ vẫn không thể bỏ niềm tin vào đại học cho con, vẫn không thể gắn vào thói quen trong cách đánh giá tích cực của việc học nghề. Nếu lỡ con mình học không được giỏi, các bậc phụ huynh thà bỏ tiền ra để nhờ thầy dạy thêm nhằm vào đại học chứ không muốn con mình học nghề. Mong muốn có chỗ đứng trong cơ quan nhà nước với sự nhàn nhã mà thu nhập ổn định làm cho nhiều người nông dân không thể đánh cược số phận của con mình khi là công nhân bậc cao. Sự đánh giá của hàng xóm láng giềng về danh phận một đứa con có khi còn quan trọng đối với cha mẹ hơn là số tiền thu nhập mà đứa con mang lại. Phân luồng dạy nghề không thể là chủ trương mà phải là lòng dân; không phải là dạy cái gì trường có mà phải dạy cái gì xã hội cần; và không nên biến trường dạy nghề trở thành nơi tập trung của những học sinh không tốt về học lực.
Chỉ khi nào một người mẹ tận mắt chứng kiến một công nhân bước ra từ trường TCCN mà thu nhập bằng hoặc cao hơn những người học đại học thì mới hy vọng họ sẽ cho con theo học nghề. Chỉ khi nào người hàng xóm của cha mẹ học sinh có con học nghề mà thành đạt thì lúc ấy các bậc cha mẹ mới thôi không ép buộc con cái theo ý mình. Giáo dục không chỉ là chuyện của thầy, cô giáo mà còn là chuyện của xã hội. Kinh tế phát triển, việc làm nhiều, lương cao là những gì mà các cấp chính quyền cần phải dọn đường trước cho việc phân luồng. Do vậy, để thực hiện tốt Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI cũng như những định hướng về phát triển giáo dục trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải thực sự vào cuộc trên cơ sở các nền tảng như: Thấu hiểu, tôn trọng văn hóa của các dân tộc và từng vùng, miền; nỗ lực và kiên trì trong việc phát triển kinh tế để ổn định an sinh xã hội và tạo việc làm; ngành giáo dục là trụ cột trong phân luồng nhưng không thể là lực lượng duy nhất; thầy, cô là người hướng nghiệp nhưng cha mẹ và xã hội mới là những người đưa các em vào trường nghề một cách vững chắc nhất.
TS HUỲNH VŨ LAM, Phó hiệu trưởng Trường THPT chuyên Nguyễn Thị Minh Khai, TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng