leftcenterrightdel

Trung tướng Lê Chiêm phát biểu khai mạc hội thảo.

Ý chí và quyết tâm sắt đá

Sau phát biểu khai mạc hội thảo của Trung tướng Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Báo cáo đề dẫn hội thảo do Trung tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT) Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam trình bày, nhiều đại biểu đã trình bày những tham luận sâu sắc.

leftcenterrightdel
Trung tướng Nguyễn Trọng Nghĩa báo cáo đề dẫn hội thảo. 
Một trong những nội dung được các tham luận đề cập, phân tích, làm rõ là bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế năm 1945-1946; những tác động đối với cách mạng Việt Nam.

Phát biểu tại hội thảo, NGND, GS. Vũ Dương Ninh đã có tham luận “Thái độ của các cường quốc trước sự trở lại xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp”. Ngoài ra, làm rõ nội dung này còn có tham luận của các tác giả: TS. Lê Đức Hạnh, TS. Lê Đức Hoàng... Các tham luận đã trình bày và phân tích mối quan hệ phức tạp của các nước và khu vực sau Chiến tranh thế giới thứ 2; làm rõ mưu đồ, những toan tính và sự thỏa hiệp của các cường quốc để cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.

Tham luận của NGND, GS. Vũ Dương Ninh khẳng định, hiểu rõ bản chất hiếu chiến của thực dân phản động, ta vẫn đưa ra đối sách mềm dẻo cần thiết để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược. Khoảng thời gian không dài nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng và thiết thực đối với một dân tộc vừa giành được chính quyền, phải đối phó với thù trong giặc ngoài, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến đầy thử thách. Đó cũng là thời gian để lại nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng về sự kết hợp giữa đối nội và đối ngoại, giữa lập trường kiên định với biện pháp mềm dẻo, giữa nhân nhượng sách lược với quyết tâm chiến lược, giữa tranh thủ khả năng hòa bình với chuẩn bị tiến hành chiến tranh. Nhờ đó, toàn thể nhân dân vững bước tiến vào cuộc kháng chiến gìn giữ nền độc lập, bảo vệ Nhà nước Dân chủ Cộng hòa.

leftcenterrightdel
NGND, GS Vũ Dương Ninh phát biểu tham luận. 
Ở nội dung này, các tham luận cũng đã góp phần làm rõ bản chất hiếu chiến, âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp; khẳng định nguồn gốc của chiến tranh là do thực dân Pháp gây ra, bắt đầu từ ngày 23-9-1945 ở Sài Gòn, và một tháng sau là ở Nha Trang; ngang nhiên xóa bỏ các hiệp định được ký kết, công khai dùng sức mạnh quân sự để chiếm toàn bộ nước ta.

Một số tham luận cũng tập trung làm rõ những khó khăn của ta sau Cách mạng tháng Tám như: Chính quyền cách mạng chưa được củng cố, tổ chức đảng chưa được thống nhất, lực lượng vũ trang còn non yếu, những hậu quả về kinh tế-xã hội do thực dân, phong kiến để lại nặng nề. Trước tình thế nghìn cân treo sợi tóc, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Toàn quốc kháng chiến đã được chúng ta tiến hành chủ động, kiên quyết, là bước tiếp nối truyền thống quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta; khẳng định phẩm giá của một dân tộc anh hùng...

Tầm nhìn chiến lược, tư duy sắc bén

Nhiều tham luận tại hội thảo đã đi sâu phân tích tầm nhìn chiến lược, tư duy sắc bén của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt là sớm đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ; lãnh đạo, tổ chức toàn quân, toàn dân xây dựng lực lượng về mọi mặt, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

Tại hội thảo, Trung tướng Phạm Văn Dỹ, Chính ủy Quân khu 7 có tham luận “Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh – Nam Bộ thành đồng góp sức toàn quốc kháng chiến”. Tham luận nhấn mạnh, hướng về Hà Nội và phối hợp cùng chia lửa với Thủ đô, ngay sau khi nhận lệnh toàn quốc kháng chiến, các Đội tự vệ thành và Đội cảm tử ở Sài Gòn đồng loạt nổ súng tiến công địch; mở cuộc Tổng tiến công, khuấy rối, phong tỏa, phá hoại. Khắp các địa phương phía Nam diễn ra những trận “kinh tế chiến”, “giao thông chiến”..., giam chân 40.000 quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Nam Bộ, góp phần làm phá sản ý đồ hòng tiến công ra miền Bắc của quân địch; không để cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc. Cũng kể từ ngày 19-12-1946, lực lượng cách mạng ở Nam Bộ đã được chấn chỉnh một bước. Để đối phó với những diễn biến ở Mặt trận Hà Nội, thực dân Pháp buộc phải chuyển quân thiện chiến ra chiến trường phía Bắc. Vì thế, kháng chiến Nam Bộ có thêm điều kiện củng cố, phát triển lực lượng về mọi mặt, tổ chức lại chiến trường, tạo thế tiến công địch.

leftcenterrightdel
Trung tướng Phạm Văn Dỹ phát biểu tham luận. 
Cũng trong mảng nội dung này, nhiều ý kiến tham luận đã tập trung phân tích và làm sáng tỏ chủ trương sử dụng các biện pháp ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tìm kiếm cơ hội giữ gìn hòa bình, tránh xảy ra chiến tranh, thể hiện rõ thiện chí của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu cho vấn đề này là các tham luận “Quan điểm hòa bình, hữu nghị và hợp tác của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp” của Đại tá, ThS. Đỗ Nhuận, TS. Dương Minh Huệ; “Nỗ lực vãn hồi hòa bình của Việt Nam Dân chủ cộng hòa những năm 1945-1946” của Đại tá, PGS.TS.  Hồ Khang...

Bên cạnh đó, các tham luận đã khẳng định và làm rõ thêm sự lãnh đạo sáng suốt, chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cuộc chiến tranh cách mạng, chủ động phát động toàn quốc kháng chiến đúng lúc, giành được những thắng lợi quan trọng. Thiếu tướng, PGS.TS. Nguyễn Văn Bạo, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, trong tham luận “Thời cơ phát động toàn quốc kháng chiến”, đã làm rõ nội dung nói trên. Tham luận chỉ rõ: Cuối tháng 12-1946, Đảng chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến, khi đã tạo nên những thuận lợi cơ bản: Sau gần 16 tháng lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị mọi mặt cả về vật chất và tinh thần, Đảng đã trưởng thành một bước trong chỉ đạo chiến tranh cách mạng; đội ngũ đảng viên được tăng cường, chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố vững mạnh; lực lượng vũ trang có bước phát triển mới, có thêm kinh nghiệm chiến đấu từ Nam Bộ kháng chiến. Đặc biệt là chúng ta đã xây dựng quyết tâm chiến đấu và niềm tin tất thắng trong nhân dân. Trên cơ sở sớm phát hiện kẻ thù chủ yếu và nguy cơ chiến tranh, chủ động chuẩn bị, lại nhạy bén phát hiện tình hình, nhận định đúng thời cơ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định phát động Toàn quốc kháng chiến, chủ động nổ súng đánh trước vào đêm 19-12-1946 ở Thủ đô Hà Nội và nhiều thành phố, thị xã khác. Đảng đã chuẩn bị đầy đủ những điều kiện và chủ động để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, tạo nên tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Dũng cảm, mưu trí, lập nên chiến công oanh liệt

Một vấn đề khác được nhiều tham luận tập trung nghiên cứu, làm rõ và khẳng định, đó là toàn quốc kháng chiến là tác chiến chiến lược đầu tiên của chiến tranh cách mạng trên quy mô cả nước, diễn ra đồng loạt trên các đô thị Bắc Vĩ tuyến 16 và có sự phối hợp của quân, dân Nam Bộ, Nam Trung Bộ, thể hiện ý chí quyết tâm, truyền thống đấu tranh giữ vững độc lập, tự do của dân tộc. Trong toàn quốc kháng chiến, quân và dân ta đã vượt qua những bất lợi về tương quan lực lượng, về vũ khí trang bị, lập nên những chiến công oanh liệt, giành được những thắng lợi quan trọng, tạo ra khoảng thời gian quý báu cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.

Phát biểu tham luận tại hội thảo, đồng chí Thân Thị Thư, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh cho rằng, những ngày toàn quốc kháng chiến là cuộc chiến đấu mang tính nhân dân rộng rãi, sâu sắc trong lịch sử của đất nước ta ở vùng đất Nam Bộ. Dù chỉ bằng vũ khí thô sơ, chủ yếu là tầm vông vạt nhọn, giáo mác, gậy gộc, những người con ưu tú của “Nam Bộ thành đồng” đã thực hiện “tiêu thổ kháng chiến, trong đánh ngoài vây” khiến cho cả một lực lượng quân viễn chinh nhà nghề với tàu chiến, máy bay, xe tăng tạo thành cỗ máy chiến tranh hiện đại bị giam chân hơn một tháng trong một thành phố không điện, không nước, không lương thực, tác động mạnh mẽ đến ý chí xâm lược của kẻ thù, góp phần làm chậm bước tiến của chúng.

leftcenterrightdel
Quang cảnh hội thảo. 
Trong tham luận ““60 ngày đêm khói lửa”-khúc tráng ca của quân, dân Thủ đô trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc”, Thiếu tướng Nguyễn Thế Kết, Chính ủy Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội nhấn mạnh, cuộc chiến đấu giam chân địch trong Thành phố 60 ngày đêm của quân dân Thủ đô là cuộc chiến đấu không cân sức; quân số của Pháp hơn gấp 2,6 lần quân ta, vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại và lớn hơn nhiều lần lực lượng của ta. Trong 60 ngày đêm chiến đấu, với phương thức “không đánh trận địa với địch, không đương đầu với hỏa lực mạnh của địch, không rõ địch không đánh”, quân và dân Thủ đô luôn giành thế chủ động tiến công, chiến đấu dũng cảm, kiên cường, đầy mưu trí sáng tạo. Kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự và tiến công, giữa đánh du kích và đánh vận động, giữa đánh ở bên trong và đánh từ bên ngoài, dùng những phân đội nhỏ có tính cơ động nhanh, dựa vào chiến lũy, những căn nhà, ngõ phố, ban ngày chặn đánh không cho địch cơ động, phát triển chiến đấu, ban đêm luồn lách, tập kích quân địch khắp mọi nơi đẩy chúng lâm sâu vào thế bị động đối phó. Qua 60 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Thủ đô đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, phá hỏng 22 xe tăng và xe thiết giáp, 31 xe vận tải, bắn rơi và bắn hỏng 7 máy bay địch, bắn chìm 2 ca nô... Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giam chân địch, Trung đoàn Thủ đô đã thực hiện cuộc lui quân “thần kỳ”, rút khỏi thành phố trong vòng vây khép kín của kẻ thù, vượt qua sông Hồng, lên Chiến khu an toàn.

Bài học kinh nghiệm

Một nội dung các tham luận đề cập, được đánh giá là hết sức quan trọng, đó là ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm, tinh thần toàn quốc kháng chiến đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Đó là bài học về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; phân tích, dự báo đúng tình hình; về giữ vững nguyên tắc chiến lược, linh hoạt trong sách lược, kiên trì đối thoại; chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến lâu dài trên các mặt: Xây dựng và củng cố Đảng và chính quyền, xây dựng chế độ mới, phát triển lực lượng vũ trang; về nghệ thuật chỉ đạo kháng chiến; nghệ thuật quân sự; về huy động sức mạnh nhân dân; về phát huy lòng yêu nước, tinh thần quật khởi của quần chúng nhân dân.

Những nội dung nói trên đã được thể hiện tập trung, sâu sắc trong các tham luận của Đại tướng, GS.TS. Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm TCCT QĐND Việt Nam...

leftcenterrightdel
Các đại biểu tham dự hội thảo. 
Tại hội thảo, TS. Đặng Đình Qúy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đã trình bày tham luận “Ngoại giao Việt Nam Dân chủ cộng hòa trước toàn quốc kháng chiến-bài học cho công tác đối ngoại giai đoạn hiện nay”. Đồng chí Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng, để thực hiện tốt các nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn hiện nay mà Đại hội Đảng lần thứ XII đã đề ra, cần vận dụng những bài học kinh nghiệm đối ngoại của giai đoạn 1945 - 1946 trên một số mặt cụ thể như: Ngoại giao phải luôn xác định, quán triệt nguyên tắc vì lợi ích quốc gia - dân tộc; tiếp tục vận dụng khéo léo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt về sách lược và bước đi; vận dụng phương châm “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát huy trong giai đoạn 1945-1946; phát huy cao độ tính chủ động, tích cực của ngoại giao Hồ Chí Minh; vận dụng bài học về chú trọng công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo, đồng thời không ngừng bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.

Sau một buổi sáng tổ chức nghiêm túc, trách nhiệm và có chất lượng cao, Hội thảo khoa học cấp Quốc gia “Toàn quốc kháng chiến – Ý chí bảo vệ độc lập, tự do và bài học lịch sử” đã kết thúc và thành công tốt đẹp. Theo đánh giá của Ban tổ chức, hội thảo đã góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều nội dung của sự kiện toàn quốc  kháng chiến. Đây thực sự là những đóng góp quan trọng và thiết thực cho công tác nghiên cứu khoa học về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, về 30 năm chiến tranh cách mạng, về chiến tranh nhân dân Việt Nam, về Đảng, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nhân dân và QĐND Việt Nam anh hùng. Hội thảo thực sự góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng, nêu cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống đại đoàn kết cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự thống nhất cao về tư tưởng, ý chí và hành động trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ