Tuy nhiên, sau gần 50 năm hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa (DSVH) với biết bao trải nghiệm thực tiễn, tôi mới từng bước hiểu thêm “thông điệp văn hóa” mà Bác Hồ muốn trao lại cho chúng ta là: Đất nước-Bà mẹ Tổ quốc-Giang sơn gấm vóc Việt Nam do các thế hệ cha ông xây đắp và trao truyền cho con cháu hôm nay là thứ tài sản vô giá. Và đó cũng chính là loại hình DSVH đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất nhìn từ cấp độ vĩ mô.

Trong lý thuyết bảo tàng học, DSVH là sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học được trao truyền qua nhiều thế hệ, được chắt lọc và tinh chế để trở thành tinh hoa văn hóa của quốc gia. Vậy thì, lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đất liền, biển, đảo và vùng trời) mà chúng ta được trao quyền hôm nay với tư cách là không gian sinh tồn và phát triển cho 54 dân tộc anh em cùng sát cánh bên nhau bao đời trên dải đất hình chữ S này, cần được nhìn nhận như là thứ tài sản văn hóa quý giá và thiêng liêng nhất.

leftcenterrightdel
Mái ngói thâm nâu (phố cổ Hội An).

Về mặt địa lý, Việt Nam là quốc gia thuộc bán đảo Đông Dương-quốc gia có "mặt tiền" hướng biển từ 3 phía: Đông, Nam và Tây Nam với 3.260km bờ biển trải dài từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, đồng thời còn mở ra vùng lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế với khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nổi bật nhất là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lịch sử thế giới cho thấy, các quốc gia có biển đảo là điều kiện rất thuận lợi để trở thành cường quốc về kinh tế và quân sự. 

Lãnh thổ quốc gia là không gian sinh tồn-môi sinh để hình thành các di sản đô thị và DSVH làng. Hiện chúng ta có 3 làng cổ được xếp hạng di tích quốc gia ở 3 miền đất nước là: Làng cổ Đường Lâm-Hà Nội, làng cổ Phước Tích-Thừa Thiên-Huế, làng cổ Đông Hòa Hiệp-Tiền Giang. Đó là di sản của một cộng đồng về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa và là tế bào sống trong cơ cấu xã hội Việt Nam, nơi lưu giữ và biểu hiện sinh động bản sắc văn hóa Việt. Còn di sản đô thị là những cấu trúc vật thể và phi vật thể hình thành trong một giai đoạn hoặc trong suốt quá trình lịch sử phát triển đô thị, hàm chứa các mặt giá trị trên các phương diện: Ý tưởng quy hoạch, hình thái mặt bằng tổng thể, cách thức tổ chức không gian công cộng, sự đa dạng về mặt chức năng của các công trình kiến trúc. Di sản đô thị và DSVH làng phản ánh rõ nét nhất thái độ ứng xử của cộng đồng cư dân bản địa với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với các cá nhân trong cộng đồng. Có 3 bộ phận quan trọng cấu thành di sản đô thị và DSVH làng là: Bối cảnh thiên nhiên đã được thích ứng phục vụ nhu cầu sinh tồn của cộng đồng-quỹ kiến trúc được hình thành và phát triển cùng với sự mở rộng của đô thị và làng xã-lối sống, nếp sống, phong tục tập quán tốt đẹp được sáng tạo và lưu truyền bởi cộng đồng. 

Ở cấp độ vi mô chúng ta có: 5 DSVH, 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản hỗn hợp đã được UNESCO đưa vào danh mục di sản thế giới; 7 di sản tư liệu thuộc chương trình “Ký ức nhân loại”, 11 DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại, 301 di sản thuộc danh mục DSVH phi vật thể quốc gia. Cả nước có 3.498 di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia, trong đó có 105 di tích quốc gia đặc biệt. Đến đây có thể nói, muốn bảo tồn hệ thống các loại hình DSVH dân tộc, trước hết chúng ta phải thực hiện lời dạy của Bác Hồ là cùng nhau bảo vệ sự toàn vẹn và chủ quyền lãnh thổ quốc gia với tư cách là không gian thiêng liêng bao chứa toàn bộ các loại hình DSVH còn lại.

Trong các nghị quyết của Đảng và các văn bản pháp luật Việt Nam, một luận điểm luôn được khẳng định: DSVH là tài sản văn hóa vô giá của dân tộc, là mục tiêu và động lực cho phát triển đất nước. Tuy nhiên, chúng ta còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu làm rõ yếu tố kinh tế trong di sản với tư cách là động lực cho phát triển kinh tế-xã hội. Theo số liệu thống kê của tỉnh Thừa Thiên-Huế, năm 2018, tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt 32.417 tỷ đồng, tăng 7,15% so với năm 2017, doanh thu từ du lịch ước đạt 4.473 tỷ đồng, doanh thu xã hội từ du lịch ước đạt 11.300 tỷ đồng, trong khi đó tiền thu phí tham quan quần thể di tích cố đô Huế từ 3,5 triệu du khách ước đạt 320 tỷ đồng. Có thể nguồn thu từ di sản Huế đã được “ẩn” vào nguồn thu ngành du lịch và chiếm tới 50% tổng sản phẩm xã hội của cả tỉnh. 

Những số liệu dẫn ra ở trên chứng tỏ, DSVH không chỉ vô giá về mặt tinh thần mà còn là loại tài sản có giá trị to lớn về kinh tế, đồng thời có khả năng kích thích sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia với tư cách là tài nguyên thiên nhiên và văn hóa cho phát triển ngành “công nghiệp không khói” là du lịch văn hóa.

DSVH đến từ quá khứ nhưng nhất thiết phải trở thành hợp phần hữu cơ của hiện tại và phải có khả năng đáp ứng tốt nhất các nhu cầu đa dạng và phong phú của cộng đồng xã hội. Đó là con đường đúng đắn nhất để bảo tồn và phát huy giá trị di sản mà không cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

PGS, TS ĐẶNG VĂN BÀI, Phó chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam