Đồng chí Thiếu tướng NGUYỄN DUY PHÊ

Sinh năm 1923; nguyên quán: Xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; trú quán: Số nhà 376, Bùi Xương Trạch, phường Định Công, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng 8-1945; nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Ban Cơ yếu Trung ương; nguyên Phó trưởng ban phụ trách chung Ban Cơ yếu Trung ương (nay là Ban Cơ yếu Chính phủ); đã nghỉ hưu.

Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhì; Huân chương Chiến thắng hạng Nhì; Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Itxala của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp ngành cơ yếu Việt Nam và nhiều phần thưởng cao quý khác; Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.

Đồng chí đã từ trần hồi 17 giờ 50 phút ngày 19-6-2020, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Lễ viếng từ 11 giờ 30 phút đến 13 giờ ngày 22-6-2020, tại Nhà tang lễ Quốc gia (số 5 Trần Thánh Tông, TP Hà Nội). Lễ truy điệu và đưa tang hồi 13 giờ cùng ngày; điện táng tại Đài hóa thân Hoàn Vũ, TP Hà Nội.

 

Tóm tắt tiểu sử

Từ tháng 7-1944 đến 4-1945, đồng chí làm Chủ nhiệm Việt Minh tổng trong Mặt trận Việt Minh, Ủy viên Ban Chấp hành nông hội huyện, Ủy viên Ủy ban Vận động cứu quốc huyện Đức Phổ. Ngày 13-4-1945, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ tháng 5-1945 đến 9-1945, đồng chí là Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Chính trị viên Trung đội du kích Ba Tơ-Bí thư Chi bộ Đại đội Hoàng Hoa Thám.

Từ tháng 10-1945 đến 4-1946, đồng chí làm Chính trị viên Đại đội Phan Đình Phùng.

Từ tháng 5-1946 đến 12-1946, đồng chí làm Ủy viên Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, tổ trưởng tổ chức, Phòng Chính trị Đại đoàn 23-phụ trách Khoa Tổ chức, Phòng Chính trị, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam.

Từ tháng 1-1947 đến 7-1948, đồng chí làm Chính trị viên Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 95-Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn 2; sau chuyển sang làm Chính trị viên-Bí thư Đảng ủy Tiểu đoàn 50, Trung đoàn 120, Liên khu 5.

Từ tháng 8-1948 đến 2-1949, đồng chí làm Trưởng ban Chính trị-Ủy viên Ban Thường vụ Trung đoàn 120, Liên khu 5.

Từ tháng 3-1949 đến 9-1950, đồng chí được cử đi học tại Trường Quân sự Trung­-Cao, phụ trách lớp thông tin mật mã. Bí thư chi bộ thuộc Bộ Tổng tư lệnh.

Từ tháng 10-1950 đến 7-1951, đồng chí làm Trưởng phòng kiêm hiệp lý viên, Phòng Mật mã Bộ Tổng Tham mưu-Bí thư chi bộ.

Từ tháng 8-1951 đến 2-1952, đồng chí giữ chức vụ Giám đốc Trường Cơ yếu Bộ Tổng Tham mưu tại Quân khu 4, kiêm Bí thư chi bộ.

Từ tháng 3-1952 đến 2-1953, đồng chí làm chính quân chính trị tại Trường Chính trị Bộ Tổng tư lệnh, hiệu ủy viên kiêm Bí thư chi bộ.

Từ tháng 3-1953 đến 4-1954, đồng chí làm phái viên Bộ Quốc phòng vào kiểm tra công tác cơ yếu Khu 5-Liên khu 5.

Từ tháng 5-1954 đến 11-1954, phụ trách lớp đào tạo cơ yếu cấp tốc của Bộ Tổng Tham mưu-Bí thư chi bộ Bộ Tổng Tham mưu.

Từ tháng 12-1954 đến 6-1955, đồng chí phụ trách Trường Cơ yếu Bộ Quốc phòng-Bí thư hiệu ủy.

Từ tháng 7-1955 đến 9-1957, đồng chí giữ chức vụ quyền trưởng phòng Cơ yếu/Bộ Tổng Tham mưu-Bí thư chi bộ.

Từ tháng 10-1957 đến 7-1959, đồng chí giữ chức vụ Trưởng phòng Cơ yếu/Bộ Tổng Tham mưu-Bí thư chi bộ.

Từ tháng 8-1959 đến 1-1961, đồng chí được cử đi học tại Học viện Chính trị.

Từ tháng 2-1961 đến 8-1978, đồng chí giữ chức vụ Phó cục trưởng Cục Cơ yếu/Bộ Tổng Tham mưu-Bí thư liên chi-Bí thư Đảng ủy Cục Cơ yếu/Bộ Tổng Tham mưu-Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Ban Cơ yếu Trung ương.

Từ tháng 9-1978 đến 5-1979, đồng chí được cử đi học tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.

Từ tháng 6-1979 đến 6-1982, đồng chí giữ chức vụ Cục trưởng Cục Cơ yếu/Bộ Tổng Tham mưu-Phó bí thư Đảng ủy cục.

Từ tháng 7-1982 đến 11-1984, đồng chí giữ chức vụ Phó trưởng ban Ban Cơ yếu Trung ương-Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối quan Ban Cơ yếu Trung ương.

Từ tháng 12-1984 đến 4-1992, đồng chí giữ chức vụ Phó trưởng ban phụ trách chung Ban Cơ yếu Trung ương-Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối cơ quan Ban Cơ yếu Trung ương.

Đồng chí được thăng quân hàm Trung tá (5-1958), Thượng tá (12-1965), Đại tá (8-1978), Thiếu tướng (12-1984).

Tháng 5-1992, đồng chí được Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng cho nghỉ hưu.

Để nghi nhận những công lao đóng góp của đồng chí Nguyễn Duy Phê, Đảng ủy, lãnh đạo Ban Cơ yếu Chính phủ; Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội và gia đình tổ chức lễ tang đồng chí Nguyễn Duy Phê theo nghi thức Lễ tang cấp cao.