Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại khoản 1, Điều 9 Nghị định số 164/2026/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

Tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ (chồng) và con chưa thành niên của người có nghĩa vụ kê khai bao gồm:

a) Quyền sử dụng đất;

b) Nhà ở, công trình xây dựng;

c) Tài sản khác gắn liền với đất;

d) Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác mà mỗi loại có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;

đ) Tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam mà tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên;

e) Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, các loại giấy tờ có giá khác mà tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;

g) Tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;

h) Các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;

i) Tài sản ở nước ngoài;

k) Tài khoản ở nước ngoài;

l) Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.

* Bạn đọc Trần Ánh Nguyệt ở xã An Hưng, TP Hải Phòng, hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, việc trợ cấp thai sản được quy định như thế nào?

Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại Điều 95 Luật Bảo hiểm xã hội. Cụ  thể như sau:

1. Mức trợ cấp thai sản là 2.000.000 đồng cho mỗi con được sinh ra và mỗi thai từ 22 tuần tuổi trở lên chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ.

Lao động nữ là người dân tộc thiểu số hoặc lao động nữ là người dân tộc Kinh có chồng là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo khi sinh con còn được hưởng chính sách hỗ trợ khác theo quy định của Chính phủ.

2. Ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện quy định tại khoản 1 điều này. Chính phủ quyết định điều chỉnh mức trợ cấp thai sản phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước từng thời kỳ.