Bệ phóng từ những thành tựu ban đầu

Những năm gần đây, KHCN, ĐMST và CĐS đã từng bước khẳng định vai trò ngày càng rõ rệt đối với tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các tổ chức nghiên cứu công lập được tái cơ cấu theo hướng tự chủ, gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu thị trường. Nhiều trung tâm đổi mới sáng tạo đã ra đời tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, tạo thành hạt nhân kết nối giữa viện, trường, doanh nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp. Đặc biệt, Luật KHCN và ĐMST (sửa đổi năm 2025) lần đầu tiên đưa đổi mới sáng tạo vào luật, đặt ngang hàng với KHCN, đánh dấu bước tiến quan trọng về thể chế.

Đổi mới sáng tạo cũng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng doanh nghiệp. Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) năm 2024 xếp Việt Nam ở vị trí 44/132 quốc gia, tiếp tục dẫn đầu nhóm nước thu nhập trung bình thấp. Hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển nhanh với khoảng 3.800 startup. Các tập đoàn lớn như Viettel, FPT, Vingroup, VNPT đã đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển, trí tuệ nhân tạo và các sản phẩm số, đưa Việt Nam trở thành điểm đến công nghệ hấp dẫn trong khu vực.

Chuyển đổi số đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Kinh tế số năm 2024 chiếm 18,3% GDP, gấp đôi so với năm 2020, với tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm - mức nhanh nhất Đông Nam Á. Doanh thu ngành công nghệ thông tin đạt 152 tỷ USD, hơn 1.500 doanh nghiệp đã vươn ra thị trường quốc tế. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cũng gia tăng, từ 33% giai đoạn 2011 - 2015 lên 45% giai đoạn 2016 - 2020 và gần 46% trong giai đoạn 2021 - 2023, phản ánh vai trò ngày càng lớn của công nghệ và quản trị tiên tiến trong tăng trưởng.

Không thể không nhắc tới đội ngũ nhân lực công nghệ ngày càng đông đảo. Việt Nam hiện có hơn 1,2 triệu lao động công nghệ thông tin, hàng chục nghìn kỹ sư dữ liệu, AI, điện tử - viễn thông. Với lợi thế dân số trẻ, Việt Nam nằm trong nhóm 10 nền kinh tế có kỹ năng lập trình viên hàng đầu thế giới, từng bước trở thành một trung tâm cung ứng dịch vụ công nghệ toàn cầu.

Đổi mới sáng tạo lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng doanh nghiệp. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Những thành tựu đó chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam hướng tới các mục tiêu đến năm 2030: TFP đóng góp trên 55% vào tăng trưởng, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP; và xa hơn là đến 2045, trở thành quốc gia phát triển, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu về năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Khoảng trống và thách thức trên con đường đổi mới

Bên cạnh những kết quả tích cực, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, hiện nay năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn thấp, tỷ lệ đầu tư cho R&D chưa đến 15%, đa phần doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào gia công hoặc nhập khẩu. Đầu tư cho nghiên cứu phát triển còn khiêm tốn, năm 2023 chỉ khoảng 0,4% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu 2,3%, và thua xa các nước trong khu vực như Trung Quốc (2,5%) hay Singapore (1,9%).

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thiếu sự liên kết đồng bộ giữa Nhà nước, viện trường, doanh nghiệp và thị trường. Nhiều kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa do thiếu cơ chế trung gian và động lực tiếp nhận từ doanh nghiệp. Hệ sinh thái dữ liệu quốc gia vẫn phân tán, việc kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp chưa thực sự thông suốt.

Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là điểm nghẽn lớn. Việt Nam thiếu vắng các chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt những chương trình công nghệ chiến lược. Chính sách thu hút và sử dụng nhân tài chưa đủ mạnh, trong khi đào tạo đại học, sau đại học và nghề chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường.

Công cụ giám sát, đánh giá chính sách chưa theo kịp yêu cầu mới. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động KHCN vẫn thiên về số lượng đầu ra như số đề tài, bài báo, bằng sáng chế, thay vì đo lường tác động thực chất đối với tăng trưởng năng suất hay năng lực cạnh tranh quốc gia.

Những hạn chế trên có nguyên nhân sâu xa từ thể chế và chính sách chưa thật sự đồng bộ, linh hoạt; đầu tư R&D thấp và phân tán; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; và công cụ quản lý, giám sát thiếu hiện đại. Nếu không khắc phục, đây sẽ là rào cản lớn trên con đường phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Những nhiệm vụ cấp bách để bứt phá

Nhận diện rõ những thách thức đó, Đảng và Nhà nước đã có bước đi mang tính chiến lược. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là “đột phá chiến lược hàng đầu, động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và nâng cao năng lực quản trị quốc gia”. Đây là kim chỉ nam quan trọng để toàn hệ thống chính trị vào cuộc.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế quản lý tích hợp. Việc đồng bộ hóa các chiến lược, luật pháp và chương trình phát triển của ba lĩnh vực KHCN, ĐMST và CĐS sẽ giúp tạo nên một tổng thể chính sách thống nhất. Cơ chế sandbox thể chế cần được triển khai để thử nghiệm mô hình công nghệ và tài chính mới, từ đó kịp thời điều chỉnh chính sách phù hợp. Quản lý nhà nước phải chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, coi trọng kết quả và hiệu quả đầu ra thay vì kiểm soát chi tiết đầu vào.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việt Nam cần chính sách đặc thù để thu hút và trọng dụng nhân tài trong các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo. Đồng thời, việc kết nối mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu, gắn đào tạo với nghiên cứu trong các trường đại học sẽ giúp hình thành lực lượng chuyên gia đủ sức dẫn dắt các lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo cần được gia tăng mạnh mẽ. Mục tiêu là nâng chi R&D lên 1% GDP vào năm 2025 và 2% GDP vào năm 2030, với khu vực doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Quỹ Đổi mới sáng tạo quốc gia phải được vận hành theo cơ chế phi hành chính hóa, tài trợ nhanh cho những dự án rủi ro nhưng có tiềm năng đột phá. Các chính sách ưu đãi thuế cũng cần được áp dụng triệt để, chẳng hạn cho phép doanh nghiệp hạch toán mọi chi phí R&D như chi phí sản xuất, khấu trừ thuế ở mức 150–200% cho các khoản đầu tư vào công nghệ chiến lược.

Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhà nước có thể đồng chia sẻ rủi ro bằng việc bảo lãnh vốn vay cho các dự án R&D tiềm năng. Các startup công nghệ, doanh nghiệp spin-off từ viện, trường cần được hỗ trợ tốt hơn về vốn, đất đai, thị trường. Song song, cần xây dựng và vận hành sàn giao dịch công nghệ quốc gia, qua đó kết nối cung – cầu công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Một nền kinh tế số phát triển không thể thiếu hệ sinh thái dữ liệu và hạ tầng số quốc gia. Việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu mở, phát triển hạ tầng điện toán đám mây, AI, IoT, blockchain cần được xem như ưu tiên chiến lược, ngang hàng với hạ tầng giao thông và năng lượng. Đồng thời, việc bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân sẽ tạo dựng niềm tin xã hội – yếu tố cốt lõi cho thành công của chuyển đổi số.

Cuối cùng, công cụ giám sát và đánh giá chính sách phải được đổi mới toàn diện. Cần xây dựng bộ chỉ số quốc gia về KHCN, ĐMST và CĐS, áp dụng phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để theo dõi chính sách theo thời gian thực. Cơ chế giám sát độc lập và phản hồi nhanh sẽ giúp chính sách kịp thời điều chỉnh theo thực tiễn.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra con đường đột phá cho Việt Nam nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa khát vọng phát triển. Đây không phải là nhiệm vụ riêng của ngành khoa học và công nghệ, mà là trách nhiệm của toàn xã hội, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến giới khoa học và người dân.

Như Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng từng nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mọi nguồn lực cần gắn với kết quả đầu ra cụ thể. Với sự quyết tâm và đồng lòng, cùng tầm nhìn dài hạn, Việt Nam hoàn toàn có thể biến khát vọng 2045 trở thành hiện thực: Trở thành một quốc gia phát triển, phồn vinh và hùng cường.

NGUYỄN VĂN DUYÊN

* Mời bạn đọc vào chuyên mục 80 năm hành trình độc lập - tự do - hạnh phúc  xem các tin, bài liên quan.