Công tác nghiên cứu, sản xuất, bảo đảm kỹ thuật VKTBKT nhằm phục vụ tốt cho tác chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền Bắc và kịp thời đáp ứng yêu cầu chi viện vũ khí, khí tài cho chiến trường miền Nam. Đặc biệt, từ nửa cuối năm 1967, hoạt động nghiên cứu cải tiến, sản xuất, bảo đảm kỹ thuật VKTBKT với yêu cầu rất khẩn trương, số lượng lớn và triển khai đồng bộ, huy động nhiều ngành, nhiều cấp tham gia.

Đáp ứng yêu cầu của chiến trường miền Nam, các nhà máy quân giới tập trung lực lượng sửa chữa lớn các loại vũ khí bộ binh và đạn dược. Chỉ trong thời gian ngắn, ngành quân giới đã sửa chữa lớn, phục hồi hơn 10 triệu viên đạn súng trường MAS và 4,6 triệu viên đạn súng tiểu liên Tull. Để khai thác hiệu quả đạn súng tiểu liên K50, các cơ sở quân giới đã cải tiến thay nòng súng Tull bằng nòng súng K50. Đến năm 1967, ta đã cải biên, cải tiến hơn 10.000 khẩu súng Tull và K50. Để chống lại xe tăng, thiết giáp của địch, ngành quân giới đã nghiên cứu thiết kế, chế tạo ống phóng đạn chống tăng (AT) lắp lên các loại súng trường K44, tiểu liên AK và một số súng trường của Mỹ ta thu được. Tổng cục Hậu cần chỉ đạo ngành quân giới và quân khí nghiên cứu cách đóng gói các hòm đạn có đủ loại ống phóng để người mang súng gì cũng bắn đạn AT được. Cũng trong thời gian này, Nhà máy Z1 nghiên cứu cải tiến súng 12,7mm thành súng bắn phát một để đánh các phương tiện cơ giới của địch. Súng 12,7mm cải tiến theo kiểu chân súng RPK, cự ly bắn đạt từ 800m-1.200m, xuyên giáp thép CT3 dày 25mm. Khi gửi vào chiến trường miền Nam, súng 12,7mm cải tiến góp phần tăng cường hỏa lực và hiệu quả tiêu diệt xe cơ giới, ca-nô của địch.

leftcenterrightdel
Chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam sử dụng súng B40 tiêu diệt xe tăng, thiết giáp của địch. Ảnh tư liệu

Về hỏa lực mặt đất, ở miền Nam, bộ đội trang bị súng cối 81mm và súng cối 60mm. Trong khi đó, số lượng đạn cối 82mm có nhiều, quân giới miền Nam phải tổ chức tiện đai đạn cối 82mm cho thành đạn cối 81mm. Lực lượng quân giới còn cải tiến súng cối 60mm kiểu cũ nặng 20kg, thành súng chỉ còn nặng 13kg. Để có vũ khí chống lại M79 của Mỹ, bộ đội quân giới đã thiết kế súng cối "Giải Phóng", cỡ 60mm, nặng chỉ 5kg, không bệ, không chân, bắn theo phương pháp ứng dụng. Súng cối "Giải Phóng" đã được sản xuất hơn 2.000 khẩu trang bị cho chiến trường. Nhằm sử dụng phù hợp với chiến trường miền Nam, Cục Quân giới tổ chức nghiên cứu cải tiến súng cối 120mm cơ động bằng xe cơ giới thành vũ khí mang vác. Súng được bỏ khỏi xe, tiện bớt nòng, lắp thêm 2 vòng đai để giữ độ bền, chân súng được tháo rời khi cơ động. Từ chỗ súng nặng tới 300kg, giảm còn 180kg, khi bắn liều 4 cự ly bắn đạt 4km. Súng cối 120mm cải tiến được bắn thử nghiệm, kiểm tra thành công và giao cho Nhà máy V125 sản xuất. Đến năm 1968, ta đã sản xuất được 125 khẩu.

Khi đế quốc Mỹ và quân ngụy Sài Gòn mở nhiều cuộc hành quân càn quét lớn với xe tăng, xe bọc thép hỗ trợ, điển hình là cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty tháng 3-1967, Cục Quân khí đã khẩn trương chuyển vào miền Nam hàng nghìn khẩu súng chống tăng B40, B41. Cùng với súng chống tăng của các nước anh em viện trợ, các nhà máy quân giới đã tổ chức sản xuất số lượng lớn súng và đạn súng B40 gửi vào chiến trường. Cục Quân khí còn tổ chức nghiên cứu cải tiến thước ngắm cơ khí của súng B41, xây dựng bảng bắn mới, nâng cự ly tiêu diệt mục tiêu tới 850m.

Bảo đảm vũ khí cho lực lượng đặc công, trinh sát, biệt động và của dân quân, du kích, các nhà máy, cơ sở quân giới đã nghiên cứu, cải tiến thiết kế và sản xuất số lượng lớn lựu đạn, mìn, bộc phá, thủy lôi... Điều kiện môi trường miền Nam nóng ẩm, mùa mưa và mùa khô rõ rệt, nên các nhà máy quân giới nghiên cứu các loại ngòi, bộ lửa phù hợp. Đồng thời, các nhà máy còn sản xuất hàng triệu quả mìn chống tăng, mìn định hướng, mìn bám... dùng đánh sân bay, bến cảng, xe cơ giới, máy bay, tàu thủy và sản xuất ngòi, thủy lôi APS đánh phá tàu địch trên sông, biển... Bên cạnh đó, các cơ sở quân giới tại chỗ trên các chiến trường, địa phương đã nghiên cứu, tự chế tạo các loại bom, đạn, mìn để đánh địch phù hợp điều kiện thực tế.

Cục Quân giới, Cục Quân khí và các nhà máy đã tổ chức nghiên cứu cải tiến, hồi phục nhiều loại VKTBKT do các nước xã hội chủ nghĩa anh em viện trợ để chi viện chiến trường miền Nam. Nhiều loại vũ khí, đạn dược như súng B40, B41; súng cối 60mm, 82mm, 120mm và đạn pháo, đạn súng 12,7mm do nước bạn viện trợ đã được cải tiến, bảo đảm kỹ thuật và đồng bộ lại, đưa vào miền Nam, góp phần vào thắng lợi chiến lược của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

HOÀNG HỒNG PHƯƠNG