leftcenterrightdel
Cán bộ, y, bác sĩ bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí (Quảng Ninh) lấy mẫu xét nghiệm Covid-19 tại Bắc Giang. Ảnh: QĐND 

I. Tình hình dịch Covid-19 ở Việt Nam từ tháng 5-2021 đến nay

Từ ngày 13-5-2021 đến 24-7-2021: Tình hình dịch Covid-19 ở Việt Nam đã thay đổi về chất: Số ca nhiễm mới một ngày tăng từ 87 người ngày 13-5 lên 9.200 người ngày 24-7, gấp hơn 100 lần so với ngày 13-5-2021 (Hình 1), gấp 1.100 lần mức bình quân 7,7 người/ngày của giai đoạn tháng 1-2020 đến tháng 4-2021. Số người đang điều trị tại các bệnh viện tăng từ 984 người ngày 13-5 lên hơn 75.000 người ngày 24-7, gấp hơn 77 lần ngày 13-5-2021. Ngày 27-4, cả nước chỉ có 7 tỉnh, thành phố có dịch, chiếm 11% số tỉnh, thành cả nước (63), nhưng đến ngày 24-7 là 47 tỉnh, thành phố, chiếm gần 75%.

Có thể nói, từ ngày 27-4 đến 25-6-2021, làn sóng lây nhiễm thứ tư bắt đầu, xuất hiện dịch trên cả nước và dịch tăng nhẹ, còn từ ngày 25-6 đến nay, dịch bùng phát rất mạnh (Hình 1 và Bảng 1).

leftcenterrightdel

BẢNG 1: Tình hình dịch Covid-19 của Việt Nam

 

Trong tháng 6-2021, Bắc Giang và Bắc Ninh là khu vực trung tâm dịch lớn nhất cả nước, với số người đang được điều trị ngày 17-6 là 5.052 người, chiếm hơn 70% tổng số người đang được điều trị của cả nước. Trong tháng 7-2021, TP Hồ Chí Minh là khu vực trung tâm dịch lớn nhất cả nước. Quy mô số người đang được điều trị ở TP Hồ Chí Minh ngày 20-7 là 38.516 người, chiếm gần 70% cả nước, gấp hơn 7,6 lần quy mô của Bắc Giang và Bắc Ninh ngày 17-6-2021.

II. Định hướng một số giải pháp mới trong giai đoạn hiện nay

Từ thực tiễn của một số địa phương và kinh nghiệm các nước, tôi thấy có thể xem xét một số giải pháp mới sau đây:

1. Tổ chức lại việc điều trị người nhiễm: Chuyển từ mô hình đưa 100% người nhiễm (F0) vào các bệnh viện sang mô hình đưa khoảng 35% số người nhiễm vào bệnh viện

Vừa qua, nhận thức của chúng ta nói chung là để PCD, phải phát hiện kịp thời số người nhiễm mới (F0) và đưa đi cách ly, điều trị tất cả F0 ở các bệnh viện đang có hoặc bệnh viện dã chiến được xây dựng mới. Khi quy mô số người nhiễm mới mỗi ngày còn thấp, tổng số người đang được điều trị còn thấp, thì việc đưa tất cả F0 đi điều trị ở các bệnh viện là khả thi. Nhưng hiện nay, tình hình đã khác hẳn và không thể tiếp tục làm như vậy.

Với tốc độ hiện nay, hơn 8.000 người nhiễm mới một ngày, nếu cứ 5 ngày chúng ta có thể xây thêm 1 bệnh viện 2.000 giường để điều trị bệnh nhân Covid-19, thì trong thời gian này, số người nhiễm mới (F0) tăng thêm hơn 40.000 người, gấp 20 lần số giường bệnh mới được tạo thêm. Hệ thống y tế sẽ quá tải trầm trọng ở các địa phương có dịch nặng, không thể đưa tất cả người nhiễm Covid-19 vào các bệnh viện, cho dù có xây dựng thêm nhiều bệnh viện mới.

leftcenterrightdel

HÌNH 1: Xu hướng diễn biến số ca nhiễm mới trong ngày của Việt Nam trong làn sóng lây nhiễm Covid-19 thứ 4 (Nguồn số liệu: Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh)

 

Hướng giải quyết mâu thuẫn này là tổ chức lại việc điều trị bệnh nhân Covid-19 phù hợp với đặc điểm bệnh học của người nhiễm Covid-19.

Theo kinh nghiệm một số nước ở châu Âu thì:

+ Khoảng 65% số người nhiễm sẽ tự khỏi, không cần điều trị (bệnh rất nhẹ)

+ Khoảng 20% người nhiễm cần điều trị để nâng sức đề kháng, hạn chế tác dụng bất lợi của các bệnh nền và các bệnh khác của bệnh nhân Covid-19 (bệnh nhẹ)

+ Khoảng 10% người nhiễm cần điều trị chuyên sâu về Covid-19 là những người bệnh ở mức độ trung bình (bệnh trung bình)

+ Khoảng 5% người nhiễm cần điều trị tích cực, có các thiết bị đặc thù, là các bệnh nhân nặng, trong đó khoảng 2 đến 3% có thể tử vong (bệnh nặng).

Phù hợp với cơ cấu bệnh nhân Covid-19 như vậy, mà theo đánh giá của một số chuyên gia y tế Việt Nam, đặc điểm bệnh học người nhiễm Covid-19 ở Việt Nam cũng tương tự, tôi kiến nghị quy trình điều trị người nhiễm Covid-19-“Phân loại người nhiễm-4 tầng điều trị-1 trung tâm điều phối” ở các tỉnh, thành phố của Việt Nam, Sơ đồ 1, hoạt động như sau:

- Sau khi người nhiễm được khẳng định là dương tính qua xét nghiệm thì được chuyển ngay về các bệnh viện tuyến quận, huyện để theo dõi, phân loại theo 4 nhóm: Nhóm 1: Bệnh rất nhẹ (không có triệu chứng, nồng độ virus thấp, không có các bệnh khác), Nhóm 2: Bệnh nhẹ (triệu chứng không rõ ràng, nồng độ virus thấp, có các bệnh khác cần điều trị), Nhóm 3: Bệnh mức độ trung bình, có thể có bệnh khác đi kèm, Nhóm 4: Bệnh nặng và ngay sau đó được chuyển về 4 loại cơ sở sau đây:

Một là, các trung tâm giám sát và hỗ trợ người nhiễm ở các quận, huyện tiếp nhận các bệnh nhân rất nhẹ (Tầng 1): Đây không phải là các cơ sở điều trị, chỉ có chức năng giám sát sức khỏe, nâng đỡ sức khỏe cho người nhiễm rất nhẹ, kiểm tra nồng độ virus. Nếu sau 7-10 ngày, sức khỏe người bệnh tiếp tục ổn định, nồng độ virus thấp, không có nguy cơ lây nhiễm đáng kể, thì sẽ chuyển về nhà cách ly tiếp một thời gian và tự theo dõi (khoảng 2-3 tuần).

Còn nếu qua kiểm tra tình hình sức khỏe xấu đi, từ bệnh rất nhẹ chuyển thành bệnh nhẹ, thì sẽ chuyển ngay đến các bệnh viện tuyến quận, huyện điều trị bệnh nhẹ. Sau 1 đến 2 tuần, hầu hết số bệnh nhân rất nhẹ này sẽ được trả về gia đình, trung tâm sẵn sàng tiếp nhận tiếp các người nhiễm Covid-19 thể rất nhẹ. Bằng cách thiết lập các trung tâm giám sát này, chúng ta sẽ tiếp nhận khoảng 65% số người nhiễm ở các quận, huyện, cách ly họ với cộng đồng, không còn nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng, giảm tải rất lớn cho các bệnh viện. Các trung tâm giám sát và hỗ trợ người nhiễm có thể sử dụng các cơ sở vật chất khác nhau để thực hiện nhiệm vụ của mình: Các trường học, các khách sạn, ký túc xá, bệnh viện dã chiến, khu chung cư chưa bàn giao...

Tùy theo tình hình dịch ở các quận, huyện mà quy mô các trung tâm này ở các quận, huyện là khác nhau, song có nhiệm vụ là tiếp nhận sớm gần 2/3 số người nhiễm (F0) mới được phát hiện, không đưa về các bệnh viện. Ở nơi dịch nặng, mỗi phường, xã có thể có 1 trung tâm như vậy. Nhân lực của các trung tâm y tế phường, xã là lực lượng quản lý và vận hành các trung tâm giám sát này, trong trường hợp cần thiết có thể được bổ sung từ cấp quận, huyện hoặc tỉnh, thành phố.

leftcenterrightdel

Sơ đồ 1: Đề xuất quy trình điều trị các F0 phù hợp với cơ cấu bệnh của người nhiễm Covid-19 “Phân loại người nhiễm, 4 tầng điều trị, một trung tâm điều phối”.

 

Hai là, các bệnh viện quận, huyện hoặc khu vực tiếp nhận các bệnh nhân nhẹ (Tầng 2): Đây là các cơ sở điều trị đa khoa hiện nay, được hỗ trợ một số bác sĩ, điều dưỡng chuyên khoa nhiễm, để điều trị các bệnh nhân Covid-19 nhẹ, nhất là khi họ có bệnh nền hoặc đang phải điều trị một số bệnh khác.

Như vậy, thực chất, trọng tâm của các cơ sở này là điều trị các bệnh khác cho bệnh nhân có “bệnh nền” là nhiễm Covid-19 thể nhẹ để sau đó họ tự khỏi nhiễm Covid-19. Khi bệnh nhân đã chuyển từ bệnh nhẹ thành rất nhẹ, họ có thể được chuyển về các trung tâm giám sát hoặc về nhà, tự cách ly tiếp, để giảm tải cho các bệnh viện điều trị bệnh nhân nhẹ.

Nếu bệnh nhân chuyển từ bệnh nhẹ thành trung bình, họ sẽ được chuyển sang các bệnh viện cấp tỉnh, thành phố điều trị bệnh nhân trung bình để điều trị tiếp (Sơ đồ 1). Khoảng 20% người nhiễm Covid-19 (F0) có thể được điều trị ở các bệnh viện đa khoa tuyến huyện hoặc khu vực.

Ba là, các bệnh viện cấp tỉnh, thành phố tiếp nhận các bệnh nhân Covid-19 mức trung bình (Tầng 3): Đây là các bệnh viện chuyên khoa hoặc đa khoa cấp tỉnh, thành phố hoặc bệnh viện tư nhân có lực lượng y, bác sĩ và thiết bị phù hợp để tiếp nhận khoảng 10% số người nhiễm (F0) là bệnh nhân thể bệnh trung bình. Tùy theo tình hình dịch ở các địa phương mà họ được tăng cường nhân lực và thiết bị để có thể đủ sức điều trị các bệnh nhân mức trung bình, nhất là kết hợp điều trị bệnh nền và bệnh khác của các bệnh nhân Covid-19.

Khi điều trị có kết quả tốt, bệnh nhân trở thành bệnh nhẹ, họ được chuyển về các bệnh viện cấp quận, huyện điều trị bệnh nhân nhẹ hoặc về nhà tự cách ly một thời gian, để giảm tải cho các bệnh viện cấp tỉnh, thành phố (Sơ đồ 1). Còn nếu một số ít bệnh nhân trở thành nặng, họ sẽ được chuyển ngay về các bệnh viện điều trị bệnh nhân nặng của tỉnh, thành phố hoặc của Trung ương đóng trên địa bàn hoặc ở cùng khu vực (Sơ đồ 1).

Bốn là, các bệnh viện cấp tỉnh, thành phố hoặc thuộc Trung ương tiếp nhận các bệnh nhân Covid-19 nặng (Tầng 4): Đây là các bệnh viện có đội ngũ bác sĩ chuyên khoa giỏi, trang bị đủ các thiết bị đặc thù như: Giường điều trị tích cực (ICU), máy theo dõi bệnh nhân, máy thở chức năng cao, ECMO, máy lọc máu liên tục, hệ thống oxy dòng cao, X-quang di động, siêu âm màu... để có thể điều trị các bệnh nhân nặng, chiếm khoảng 5% số người nhiễm Covid-19, nhất là khi họ có các bệnh nền và bệnh khác đồng thời. Trên cơ sở dự báo số người nhiễm mới Covid-19 trong thời gian 1-2 tháng tới ở địa phương, có thể xác định quy mô điều trị cần thiết của các bệnh viện này để chuẩn bị sẵn sàng, đáp ứng nhu cầu điều trị các bệnh nhân nặng.

- Mô hình điều trị người nhiễm Covid-19 “Phân loại người nhiễm-4 tầng điều trị” đòi hỏi phải theo dõi chặt chẽ, kịp thời tình hình người nhiễm mới được đưa tới các trung tâm giám sát, hỗ trợ người nhiễm và các bệnh viện điều trị bệnh nhân nhẹ, trung bình, nặng, việc chuyển người nhiễm cả hai chiều-chuyển khi nặng lên, chuyển khi bệnh nhẹ hơn, Sơ đồ 1 và luân chuyển ngang người nhiễm, giữa các trung tâm giám sát, hỗ trợ người nhiễm và các bệnh viện để tránh quá tải của các đơn vị này. Vì vậy, cần có một trung tâm điều phối để cả hệ thống điều trị “Phân loại người nhiễm-4 tầng điều trị” hoạt động hiệu quả cao, tạo điều kiện cho hệ thống y tế hoạt động bền vững, chăm lo sức khỏe toàn diện cho nhân dân.

2. Tổ chức phòng, chống dịch theo phương châm 5 tại chỗ

Phương châm 4 tại chỗ khi phòng, chống thiên tai “Chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ” là rất cần thiết và đã phát huy tác dụng trong thời gian qua. Tuy nhiên, khi phải PCD Covid-19 năm 2020 tại TP Hồ Chí Minh, diễn biến dịch ở các quận huyện, phường xã là khác nhau, trách nhiệm của các lực lượng y tế, công an, quân đội, giao thông, truyền thông, giáo dục, UBND, cấp ủy các cấp là rất khác nhau, có đặc thù nhưng phải được phối hợp kịp thời, đồng bộ, tương xứng với tình hình dịch và dự báo dịch sắp tới, thì cần bổ sung một phương châm là: “Nhiệm vụ tại chỗ”.

Tương ứng với tình hình thực tế diễn biến của dịch, người đứng đầu của các lực lượng, các cấp phải xác định rõ: Để phương án tổng thể của thành phố, quận huyện và phường xã PCD thành công thì nhiệm vụ của ngành mình, đơn vị mình, quận huyện, phường xã mình là gì, từ đó chủ động chỉ đạo triển khai các giải pháp sáng tạo để thực hiện, không phải chờ cấp trên chỉ đạo phải làm gì. “Chống dịch như chống giặc” mà chỉ chờ cấp trên chỉ đạo phải làm gì thì không thắng được giặc. Vì vậy, từ đầu năm 2020, thành phố đã thực hiện phương châm 5 tại chỗ. Trước tình hình dịch cấp bách như hiện nay, việc thực hiện 5 tại chỗ là hữu ích với mọi địa phương.

3. Cần có tiêu chí định lượng cho mục tiêu chống dịch và kiểm soát dịch

Thực tế hơn một năm qua cho thấy, khi có lây nhiễm ở các tỉnh, thành phố thì cách tổ chức PCD là khác nhau, nhận định về việc một tỉnh, thành phố là “vùng dịch” cũng khác nhau, do đó, việc xử lý công dân, phương tiện giao thông từ địa phương này đến địa phương kia cũng khác nhau. Khi mức độ lây nhiễm giảm, việc nhận định là đã hết dịch hay đã kiểm soát được dịch chưa cũng khác nhau, dẫn đến việc tiếp tục duy trì các hoạt động PCD cũng khác nhau.

Sở dĩ có tình hình này là vì cho đến nay, các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương chưa đưa ra tiêu chí định lượng: Thế nào là một địa phương (tỉnh, thành phố, quận, huyện) có dịch, thế nào là có dịch nhẹ, trung bình, dịch nặng, thế nào là kiểm soát được dịch và thế nào là hết dịch, bước vào trạng thái tình hình mới. Do không có các tiêu chí định lượng này nên các địa phương lúng túng khi xác định “Nhiệm vụ tại chỗ” công tác PCD của mình là gì, mục tiêu công tác PCD ở địa phương tại từng thời điểm cụ thể là gì, đánh giá việc PCD là đạt yêu cầu hay không, đến mức nào. Nhiều nước ở châu Âu đang dùng tiêu chí: Số người nhiễm mới 7 ngày gần nhất trên 100.000 dân để xác định nguy cơ dịch, mức độ dịch, từ đó triển khai các giải pháp PCD phù hợp.

4. Cần một gói hỗ trợ tài chính để phòng, chống dịch, bảo đảm mức sống tối thiểu cho nhân dân và bảo vệ năng lực phát triển kinh tế sau dịch

Với quy mô dịch hiện nay lớn hơn rất nhiều so với năm 2020, chưa biết dịch trên thế giới sẽ kéo dài đến lúc nào, thì việc có gói hỗ trợ tài chính để thực hiện công tác PCD cho năm 2021-2022 là hết sức cần thiết: Để mua sắm trang thiết bị y tế, mua và sản xuất vaccine. Tuy nhiên, khi dịch kéo dài, phải áp dụng các biện pháp hạn chế đi lại, thu hẹp sản xuất, kinh doanh, sẽ có 2 hậu quả:

- Đời sống của nhân dân ngày càng khó khăn, do không có việc làm và thu nhập.

- Các doanh nghiệp ngừng hoạt động, không trả được nợ vay ngân hàng, sau 6 tháng sẽ ngày càng có nhiều doanh nghiệp phá sản.

Để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế trong và sau dịch, cần hỗ trợ các doanh nghiệp để họ có thể duy trì năng lực sản xuất (thiết bị, máy móc, người lao động, chuyên gia) vì nếu đã phá sản thì đây là quá trình không đảo ngược được. Sau phá sản, họ không thể thành lập lại doanh nghiệp và hoạt động như trước. Vì vậy, chúng ta cần đưa ra mục tiêu: Phải bảo vệ được bao nhiêu (70%, 80%, 90%) năng lực sản xuất, kinh doanh của đất nước đến cuối năm 2021, đến giữa và cuối năm 2022 để khi dịch qua rồi, quá trình phục hồi kinh tế có thể diễn ra nhanh chóng.

Như vậy, Chính phủ nên trình Quốc hội một gói hỗ trợ tài chính có 3 mục tiêu:

1. Ngành y tế đủ năng lực tổ chức PCD Covid-19 lâu dài

2. Người dân có mức sống tối thiểu khi còn dịch

3. Nền kinh tế bảo vệ được năng lực sản xuất cơ bản ở các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn trọng điểm trong suốt quá trình có dịch.

5. Triển khai quyết liệt ngoại giao vaccine và sản xuất vaccine trong nước

Theo thống kê số vaccine mà 27 nước Liên minh châu Âu và 5 nước Anh, Mỹ, Nhật, Canada và Úc đã đặt hàng sản xuất năm 2021 là hơn 7 tỷ liều, trong khi dự báo lượng vaccine được sản xuất toàn thế giới năm 2021 cũng chỉ khoảng 7 tỷ liều. Như vậy, lượng vaccine cho hơn 150 nước còn lại của thế giới có thể đặt hàng sản xuất năm 2021 là không nhiều.

Trong hoàn cảnh đó, thì ngoại giao vaccine rất quan trọng và sản xuất vaccine trong nước từ năm 2021 có ý nghĩa quyết định đối với việc đạt miễn dịch cộng đồng năm 2022. Vaccine Nanocovax do Công ty Việt Nam Nanogen sản xuất có thể hoàn thành thử nghiệm toàn bộ trên 13.000 người tham gia trong tháng 8-2021, từ đó, có thể xem xét cấp phép khẩn cấp sản xuất vaccine Nanocovax từ tháng 9-2021. Đây sẽ là bước tiến đột phá trong việc chủ động tiêm vaccine cho 70% người Việt Nam, đạt miễn dịch cộng đồng vào đầu năm 2022. Đồng thời, cần quan tâm nghiên cứu sản xuất thuốc chữa Covid-19 và đặt hàng mua kịp thời ở nước ngoài.

GS, TS NGUYỄN THIỆN NHÂN

Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh