Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT), trong đó có BHYT tự nguyện ngay từ ngày đầu triển khai đã nhận được sự đồng tình và tham gia của đông đảo nhân dân, nhất là những người lao động. Ngày 5-1-2007, BHXH Việt Nam có Công văn số 44/ BHXH - TN, yêu cầu BHXH các tỉnh, thành phố tạm dừng triển khai việc thu phí bảo hiểm y tế và phát hành mới thẻ BHYT tự nguyện. Ngay lập tức quyết định này đã gây tác động lớn đến đời sống xã hội. Cũng vào thời điểm này, báo Quân đội nhân dân liên tục nhân được thư của bạn đọc cả nước hỏi về quyết định trên của BHXH Việt Nam. Để giúp bạn đọc hiểu rõ, phóng viên báo Quân đội nhân dân đã đến BHXH Việt Nam tìm hiểu.

Theo số liệu thống kê của BHXH Việt Nam đến hết tháng 12 - 2006, cả nước đã phát hành được 11,1 triệu thẻ BHYT các loại, với tổng số thu lên tới 750 tỷ đồng, trong đó số thẻ BHYT tự nguyện là 9,6 triệu thẻ. Riêng năm 2006, số người tham gia BHYT tự nguyện đã là hơn 3 triệu người, với tổng số thu 390 tỷ đồng. Đây là con số lý tưởng, mà trên thế giới chưa có quốc gia nào làm được.

Tuy nhiên, theo ông Hoàng Kiến Thiết, Trưởng ban BHYT tự nguyện Việt Nam, những năm gần đây chất lượng dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế trong cả nước không ngừng được nâng cao; các bác sĩ thường xuyên kê đơn thuốc cho người bệnh các loại thuốc ngoại đắt tiền… nên mức chi trả cho bệnh viện của người tham gia BHYT chưa tương xứng. Thêm vào đó số lượt người có thẻ BHYT đi khám, chữa bệnh ngày càng nhiều, trong khi đó mức đóng bảo hiểm lại thấp; năm 2003 là: 60.000 đồng/ thẻ/năm (khu vực nông thôn), 80.000 đồng thẻ/năm (khu vực thành phố). Sau đó được điều chỉnh nâng dần, sang năm 2006 mức này là: 120.000 đồng/thẻ/năm (khu vực nông thôn) và 160.000 đồng/thẻ/năm (khu vực thành phố). Mức đóng này rất thấp, không tương xứng với quyền lợi mà người có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh được hưởng. Chính vì thu không đủ chi nên BHXH Việt Nam phải lấy số tiền kết dư từ quỹ BHYT hơn 2.000 tỷ đồng để chi trả. Cụ thể là năm 2005, âm hơn 400 triệu đồng; năm 2006, âm hơn 1.000 tỷ đồng.

Ông Hoàng Kiến Thiết cho biết thêm, tính đến nay số người mua BHYT tự nguyện mới chiếm khoảng 7,5% tổng số gần 50 triệu người thuộc diện vận động tham gia BHYT tự nguyện. Như vậy, nguyên tắc “số đông bù số ít” trong tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện đã không đạt được yêu cầu đề ra. Thực tế triển khai BHYT tự nguyện tại các địa phương cho thấy, chỉ những người có bệnh, có nguy cơ cao. mới thực sự quan tâm và tham gia BHYT tự nguyện. Hiện tượng này gọi là “lựa chọn ngược” trong triển khai BHYT tự nguyện. Bên cạnh đó, những quy định về điều kiện triển khai BHYT hộ gia đình và thân nhân người lao động tại Thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC qua triển khai đã bộc lộ nhiều bất cập. Về BHYT cho thân nhân người lao động, điều kiện duy nhất là 100% thân nhân của người lao động phải tham gia mua BHYT, nhưng lại không quy định phải có bao nhiêu phần trăm người lao động trong đơn vị mua thẻ BHYT cho thân nhân. Do vậy, trong một đơn vị nếu chỉ có một người lao động mua thẻ cho thân nhân của mình thì cơ quan BHXH vẫn phải thực hiện. Bên cạnh đó, người dân muốn mua thẻ BHYT tự nguyện chỉ cần tham gia một tổ chức hội, đoàn thể nào đó. Lợi dụng kẽ hở này, nhiều bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, nan y đã đăng ký tham gia vào các tổ chức đoàn thể chỉ với mục đích duy nhất là được mua thẻ khám, chữa bệnh bằng BHYT tự nguyện. Còn việc triển khai BHYT tự nguyện theo hộ gia đình thì hầu hết các gia đình chỉ lựa chọn một vài đối tượng có nguy cơ cao để mua, do vậy tỷ lệ số thành viên mua BHYT tự nguyện chỉ đạt 1,5 đến 1,8 người/hộ gia đình. Với mức chi trả mà người tham gia BHYT tự nguyện đang được hưởng (được chi trả 100% chi phí các dịch vụ y tế dưới 7 triệu đồng; 60% với các dịch vụ từ 7 đến 20 triệu đồng) và số lượng người tham gia như hiện nay cho thấy chính sách BHYT tự nguyện đang bị lợi dụng. Trước vấn đề đó, BHXH Việt Nam đã báo cáo với liên bộ Y tế - Tài chính và kiến nghị liên bộ sớm xem xét điều chỉnh lại mức đóng, quyền lợi và điều kiện tham gia bảo hiểm y tế. Trong khi chờ quyết định của liên bộ, BHXH Việt Nam đã quyết định ngừng việc cấp mới thẻ BHYT tự nguyện cho nhân dân. Việc dừng cấp mới thẻ BHYT tự nguyện được BHXH Việt Nam lựa chọn như một giải pháp “an toàn” cho quỹ.

Rõ ràng nguy cơ vỡ quỹ khám, chữa bệnh BHYT tự nguyện là có thật, với mức thu chi như hiện nay thì nguồn thu chỉ đủ chi trong 4 tháng. Sở dĩ có tình trạng trên là do cơ chế, chính sách về BHYT tự nguyện chưa thật rõ ràng, khi xây dựng các cơ quan tham mưu không tính toán hết các khả năng xảy ra, nên đã tạo ra nhiều kẽ hở cho mọi người lợi dụng. Hơn nữa, trong quá trình triển khai BHYT tự nguyện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam nói chung và Bảo hiểm xã hội các địa phương nói riêng đã không thực sự đi sâu, đi sát trong việc kiểm tra xác định xem các đơn vị, các tổ chức xã hội có thực sự mua BHYT cho tất cả các thành viên của đơn vị mình hay không; mặt khác không kiểm tra xác định xem các đối tượng tham gia có đủ tiêu chuẩn hay không…Tuy vậy, chúng tôi cũng xin nhấn mạnh, bây giờ không phải là lúc đi xác định ai sai, ai đúng, trong việc triển khai chính sách BHYT tự nguyện. Cái chính là các cơ quan chức năng của BHXH Việt Nam, các bộ, ngành liên quan cần tập trung tìm giải pháp khắc phục tình trạng này. Bởi, dù với bất cứ lý do gì, việc dừng thu và phát hành thẻ BHYT tự nguyện chắc chắn sẽ ảnh hưởng lớn đến hàng triệu người bệnh đã và đang có nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện. Sau khi thời hạn thẻ BHYT tự nguyện hết hiệu lực (31-3-2007) và không được mua thẻ BHYT mới, những người bệnh sẽ chữa bệnh như thế nào? Đây vẫn là bài toán chưa có lời giải. Việc BHXH Việt Nam quyết định dừng thu BHYT tự nguyện đã đẩy ngành BHXH vào một vòng luẩn quẩn mới. Hiện một phần trong tổng số 9,6 triệu người tham gia BHYT tự nguyện là những người đang bị bệnh và có thu nhập thấp. Nếu không được tham gia BHYT tự nguyện thì nhiều gia đình sẽ nhanh chóng rơi vào diện hộ nghèo và sẽ nằm trong diện được cấp BHYT miễn phí, khi đó gánh nặng chi trả khám, chữa bệnh cho những đối tượng này lại dồn lên vai ngành BHXH...

Vẫn biết, hiện nay BHXH Việt Nam đã chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương chuẩn bị sẵn sàng, lập và kiểm tra danh sách người tham gia để khi nào có thông tư chỉ đạo thì lại phát hành thẻ BHYT tự nguyện cho nhân dân. Riêng đối với những người đã tham gia BHYT tự nguyện rồi khi thẻ hết hạn, có nhu cầu đổi thẻ thì BHXH các cấp sẽ xem xét lại, nếu đủ tiêu chuẩn thì vẫn cấp tiếp. Tuy nhiên, quyết định dừng thu và phát hành mới thẻ BHYT tự nguyện cho thấy, BHXH Việt Nam đang lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện chính sách này. Quyết định trên không những đẩy hàng triệu người rơi vào tình trạng bị mất cơ hội được chăm sóc sức khỏe bằng BHYT, mà còn làm mất lòng tin của người dân vào chính sách BHYT. Thiết nghĩ, BHXH Việt Nam cần xem xét lại quyết định của mình. Trong khi chờ liên bộ sửa đổi Thông tư 22, thay vì ngừng thu và mới thẻ BHYT tự nguyện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên kiến nghị với các cơ quan chức năng tăng mức phí BHYT tự nguyện; đồng thời đẩy mạnh việc kiểm tra chặt đối tượng mua thẻ ngay từ “đầu vào” và kiên trì vận động đông đảo người dân tham gia để bảo đảm nguyên tắc số đông bù số ít.

VIỆT PHƯƠNGXUÂN DŨNG