Do yêu cầu xây dựng công trình thuỷ điện Hoà Bình, 14 xã vùng ven hồ, với 2520 hộ, 16.328 khẩu của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đã phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn để di chuyển đi nơi khác với khẩu hiệu “tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc”. Công tác di chuyển dân của huyện được tổ chức thực hiện từ năm 1980 và kết thúc vào ngày 30-4-1987. Đến nay, 27 năm đã trôi qua, cuộc sống của hàng nghìn hộ dân nơi quê mới vẫn đang chật vật với cuộc chiến chống đói nghèo…

Để bù đắp sự hy sinh mất mát của nhân dân các dân tộc trong vùng chuyển dân sông Đà “Tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc”, ngày 7-12-1994, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 747/TTg về việc phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật, ổn định dân cư phát triển kinh tế xã hội vùng chuyển dân sông Đà thuộc 2 tỉnh Sơn La và Hòa Bình. Đối tượng nằm trong vùng dự án của Đà Bắc gồm 14 xã, với 4365 hộ, 24.128 nhân khẩu. Qua 7 năm triển khai thực hiện Dự án 747, ngân sách Nhà nước đã đầu tư 58,515 tỷ đồng, trong đó đầu tư cho sản xuất 34,727 tỷ đồng, cho xây dựng cơ sở hạ tầng 23,456 tỷ đồng.

Màu xanh bên lòng hồ Hoà Bình

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, BQL dự án của tỉnh trực tiếp lập kế hoạch đầu tư cho từng hộ dân, huyện chỉ thành lập ban chỉ đạo phối hợp với tỉnh, không có chức năng quản lý dẫn tới hiệu quả thấp, không phù hợp với yêu cầu nguyện vọng của dân, hằng năm không hoàn thành kế hoạch, nhiều năm không sử dụng hết vốn. Một số loại cây ăn quả được đưa vào cho dân trồng như: Hồng, Mận, Mơ… do không có đầu ra nên không thể giúp bà con xóa đói, chứ chưa nói tới việc giảm nghèo. Kết quả, năm 1995, tỷ lệ hộ đói nghèo của các xã vùng dự án là 58%, thì đến năm 2001 vẫn còn tới 48% .

Ngày 18-6-2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 472 phê duyệt dự án ổn định, phát triển kinh tế xã hội vùng chuyển dân sông Đà (giai đoạn 2002-2006) của tỉnh Hòa Bình. Đối tượng trong vùng dự án của Đà Bắc gồm 16 xã, với 6045 hộ, 28.364 nhân khẩu (gồm 14 xã ven hồ và hai xã ngoài vùng có dân lòng hồ tái định).

Rút kinh nghiệm từ dự án 747, ngoài BQL dự án 472 của huyện, UBND huyện đã thành lập BQL dự án 472 các xã, xây dựng các quy chế, chính sách thực hiện dự án đến từng hộ dân trong vùng dự án, mỗi xã có một cán bộ BQL của huyện phụ trách. Các yêu cầu, mục tiêu của dự án được công khai cho dân biết, dân bàn và thực hiện, được người dân đồng tình mà bằng chứng sinh động nhất là việc phát triển trồng cây luồng.

Nhận thấy cây luồng phát triển nhanh, vừa có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc, vừa có khả năng khai thác nhanh chóng, lấy ngắn nuôi dài, huyện đã trồng thử nghiệm và tổ chức cho bà con của 170 xóm trong vùng dự án đi tham quan mô hình, tập huấn nghiệp vụ trồng luồng tại Thanh Hóa. Sau 7 năm triển khai trồng luồng, đến nay toàn huyện đã có hơn 11.000 ha. Ngoài măng là mặt hàng được thị trường ưa chuộng thì các sản phẩm chế biến từ cây luồng đang được phát triển mạnh. Huyện đã hình thành hai cơ sở chế biến bột giấy cung cấp cho các nhà máy giấy, hai cơ sở sản xuất đũa và nhiều xã đã hình thành các cơ sở sản xuất tăm, chân hương. Giá một cây luồng bán được từ 8-10 nghìn đồng, nhưng nếu chẻ tăm được khoảng 20 kg và giá 1kg tăm hiện nay là 1700đ/kg. Mô hình trồng luồng kết hợp với trồng cây thân gỗ đang phát triển khá mạnh ở Đà Bắc. Nhiều hộ gia đình đã có hàng chục ha và trở lên giầu có. Qua 6 năm thực hiện dự án 472, Nhà nước đã đầu tư 163,424 tỷ đồng, trong đó phát triển sản xuất là 47,605 tỷ đồng, xây dựng cơ sở hạ tầng 114,669 tỷ đồng. Ngoài ra, còn đầu tư vào một số lĩnh vực khác.

Đến nay, sau 27 năm, bằng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, bà con các dân tộc trong vùng di dân tái định cư lòng hồ sông Đà của huyện Đà Bắc đã trồng được hơn 11 nghìn ha luồng, 994 ha cây ăn quả các loại, 227 ha mía ROC, khai hoang ruộng nước 265 ha; 6835 hộ được vay vốn phát triển sản xuất. Nhờ đó, huyện đã cơ bản xóa được nạn đói, nhiều hộ đã thoát nghèo, vươn lên làm giầu. Năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo của các xã trong vùng dự án giảm xuống còn 19%.

Công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong vùng di dân tái định cư lòng hồ sông Đà của huyện Đà Bắc vẫn còn đầy khó khăn đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực vươn lên của bà con các dân tộc cộng với sự hỗ trợ có hiệu quả của Nhà nước. Thực tế công tác di dân tại Đà Bắc cũng đang là bài học quý cho công tác di dân xây dung thuỷ lợi, thuỷ điện của nước ta.

Bài và ảnh: Đăng Khoa