Nông dân là đối tượng dễ bị tổn thương do suy giảm kinh tế, do vậy chính sách an sinh xã hội đã ưu tiên đúng mức tới đối tượng nông dân. Trong ảnh: Nông dân quận Ô Môn, TP Cần Thơ cấy dặm lúa hè thu. Ảnh: TTXVN

Trong mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp từ nay đến Đại hội XI của Đảng vừa được Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương (khóa X) vạch ra thì bảo đảm an sinh xã hội được coi là một trong những nhóm giải pháp cốt lõi, bởi an sinh xã hội vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Đẩy mạnh sản xuất tạo ra tiền đề và điều kiện để ổn định an sinh xã hội. Ngược lại, ổn định an sinh xã hội sẽ tạo ra sức mạnh tinh thần để ngăn chặn suy giảm kinh tế.

An sinh xã hội là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm từ social security (tiếng Anh) hoặc từ sécurites sociale (tiếng Pháp). Đây là thuật ngữ xuất hiện trong một đạo luật của Mỹ năm 1935. Trong đạo luật này, an sinh xã hội được hiểu là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị cá nhân, đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ.

Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì “an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”.

Ở Việt Nam, thuật ngữ an sinh xã hội được tiếp cận dưới nhiều tên gọi khác nhau như: bảo trợ xã hội, bảo tồn xã hội, bảo đảm xã hội, trật tự an toàn xã hội… Về bản chất, an sinh xã hội là sự san sẻ trách nhiệm của mọi người đối với những người gặp rủi ro, khó khăn hoặc những yếu tố khác mà bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động.

An sinh xã hội lấy con người làm trung tâm, vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối tượng đặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể hiện thái độ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hòa nhập vào cộng đồng. An sinh xã hội góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội.

An sinh xã hội vốn là truyền thống quý báu của dân tộc ta, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng “lá lành đùm lá rách”.

Bảo đảm an sinh xã hội luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta, bởi vậy mọi chủ trương, chính sách ban hành ra suy cho cùng đều phục vụ cho an sinh xã hội. Có thể nói một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam từ đầu năm 2008 là bảo đảm được an sinh xã hội trong điều kiện kinh tế khó khăn chồng chất. Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, trong năm 2008, để bảo đảm an sinh xã hội, ngân sách Nhà nước đã chi kịp thời 42,3 nghìn tỉ đồng, gồm các khoản chi như trợ giá dầu hỏa cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng chưa có điện thắp sáng; trợ giá dầu cho ngư dân đánh bắt xa bờ; cho bảo trợ xã hội; mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo; cấp học bổng cho học sinh dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt; thực hiện miễn giảm các khoản đóng góp của người dân; miễn thủy lợi phí, không thu phí dự thi, dự tuyển vào các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông; miễn lệ phí trước bạ đối với nhà ở, đất ở của các hộ nghèo; thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với đồng bào thiểu số đặc biệt khó khăn, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn... Đối với lao động khu vực Nhà nước, đã được nâng mức lương tối thiểu từ 450 nghìn đồng/tháng vào thời điểm đầu năm 2008 và lương của người hưu trí, người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, người có công với cách mạng cũng được trợ cấp thêm 15% theo Nghị định số 101/2008/NĐ-CP ngày 12-9-2008 của Chính phủ.

Nhờ có các chính sách an sinh xã hội kịp thời, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước năm 2008 chỉ còn 13,5%, giảm 1,3% so với năm 2007. Đây là một cố gắng rất lớn của Đảng, Nhà nước đối với người nghèo và những người làm công ăn lương, là đối tượng dễ bị tổn thương trong khó khăn về kinh tế.

Đánh giá về công tác an sinh xã hội trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội X, Nghị quyết Trung ương 9 khẳng định: “Giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách đối với người có công với nước và các chính sách an sinh xã hội đạt kết quả tích cực”(1).

Tuy nhiên, theo báo cáo của Ban chấp hành Trung ương kiểm điểm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng trong nửa đầu nhiệm kỳ (2006-2008) thì một số vấn đề xã hội bức xúc vẫn chậm được khắc phục. Đời sống nhân dân, nhất là những người có thu nhập thấp, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng bị thiên tai vẫn còn khó khăn. Chính sách tiền lương, thu nhập chưa hợp lý; chất lượng cuộc sống của một bộ phận nhân dân bị giảm sút.

Một trong những mục tiêu quan trọng đã được Hội nghị lần thứ chín của Ban chấp hành Trung ương (khóa X) đặt ra từ nay đến Đại hội XI của Đảng là: “Bảo đảm an sinh xã hội, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(2).

Để thực hiện mục tiêu trên đây, Nghị quyết đã đề ra các nhóm giải pháp chủ yếu là: “Thực hiện các chính sách khuyến khích tạo việc làm; mở rộng các hình thức dạy nghề, hỗ trợ cho vay dạy nghề, học nghề, nhất là với người bị thu hồi đất, không còn đất sản xuất, lao động dôi dư do suy giảm kinh tế. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, bảo đảm vệ sinh, an toàn lao động trong các loại hình doanh nghiệp; Nhà nước đầu tư và có chính sách khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà ở, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần ở các khu công nghiệp, khu chế xuất cho người lao động có thu nhập thấp. Tiếp tục thực hiện các chính sách, chương trình xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ các gia đình chính sách, người lao động mất việc làm, người dân vùng khó khăn, vùng bị thiên tai, đồng bào dân tộc thiểu số; tập trung xóa đói giảm nghèo ở các địa phương có tỉ lệ hộ nghèo cao”(3).

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 9, Chính phủ đã cụ thể hóa và ban hành nhiều chính sách mới để bảo đảm an sinh xã hội ngay trong năm 2009. Nhằm đối phó với sự suy giảm kinh tế, Chính phủ đang và sẽ xây dựng, ban hành đồng bộ các chính sách về an sinh xã hội, bao gồm chính sách hỗ trợ về tài chính, hỗ trợ tự tạo việc làm, dạy nghề để chuyển đổi nghề nghiệp, cung cấp các dịch vụ tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao động. Trong đó sẽ thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, ban hành chuẩn nghèo mới, xây dựng cơ chế đặc thù hỗ trợ 61 huyện nghèo nhất nước. Đặc biệt, sẽ thay đổi chính sách trợ cấp qua giá, bao cấp cho người sản xuất sang điều chỉnh giá theo cơ chế thị trường và trợ cấp trực tiếp cho người thụ hưởng.

Mục tiêu tổng quát của Đề án cơ chế, chính sách và giải pháp hỗ trợ giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện có tỷ lệ nghèo cao đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tối đa các thế mạnh của địa phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc thù của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý theo quy hoạch; xây dựng xã hội ổn định, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ. Về định hướng cơ chế, chính sách hỗ trợ 61 huyện nghèo, Đề án nêu rõ, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách giảm nghèo hiện hành; trong đó điều chỉnh bổ sung 11 nhóm chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo gồm: Chính sách trợ cước, trợ giá; tín dụng ưu đãi; hỗ trợ sản xuất; khuyến nông - lâm - ngư; dạy nghề; đất sản xuất; nhà ở, đất ở; nước sinh hoạt; vệ sinh môi trường; giáo dục; y tế; trợ giúp pháp lý; chính sách bảo trợ xã hội... Đề án còn đưa ra các chính sách mới, đặc thù đối với các huyện nghèo, trong đó hỗ trợ điều kiện sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập đối với hộ nghèo; các chính sách về giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí, chính sách cán bộ ở các huyện nghèo...

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở. Việc hỗ trợ nhà ở được thực hiện theo thứ tự ưu tiên, hộ gia đình có công với cách mạng; hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số; hộ gia đình trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai; hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật...); hộ gia đình đang sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn... Mức hỗ trợ xây dựng nhà ở của Ngân sách Nhà nước cho các hộ gia đình là 6 triệu đồng/hộ. Đối với những hộ dân cư trú tại các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn thì được ngân sách Trung ương hỗ trợ 7 triệu đồng/hộ.

Ngày 17-4 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 497/QĐ-TTg về việc hỗ trợ lãi suất vốn vay mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. Theo đó, mức hỗ trợ lãi suất có thể đến 100% lãi suất vay.

Những chính sách mới về bảo đảm an sinh xã hội đã đi nhanh vào cuộc sống và đang phát huy hiệu quả tích cực. Từ ngày 1-5 tới, tiền lương tối thiểu sẽ được nâng lên, tăng hơn 20% so với mức lương tối thiểu cũ, các khoản lương hưu phụ cấp, trợ cấp… cũng sẽ được tăng thêm, sẽ góp phần cải thiện cho đời sống của cán bộ, công chức và người lao động, người nghỉ hưu trong xã hội.

Tuy vậy, an sinh xã hội nước ta đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng; mà nổi lên là việc làm đối với hàng chục triệu nông dân, 30 vạn công nhân, việc làm cho hàng triệu sinh viên tốt nghiệp ra trường, cho hàng triệu dân nghèo thành thị. Vì vậy vấn đề mấu chốt để giải quyết vấn đề an sinh xã hội là thúc đẩy sản xuất phát triển. Phát triển sản xuất và bảo đảm an sinh xã hội có quan hệ biện chứng với nhau. Phát triển sản xuất tạo điều kiện và nguồn lực để bảo đảm an sinh xã hội. Ngược lại, bảo đảm an sinh xã hội tạo động lực để kích thích và phát triển sản xuất. Trách nhiệm Nhà nước là tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi để nhân dân sản xuất kinh doanh phù hợp với bối cảnh đất nước, để nhân dân làm bất cứ việc gì ích nước lợi dân mà luật pháp không cấm. Mỗi người có việc làm phải có phần trách nhiệm đóng góp cho sự bảo đảm an sinh xã hội. Đã đến lúc cần phải xây dựng một bộ luật về an sinh xã hội. Bộ luật sẽ là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho các thành viên xã hội gặp khó khăn trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng, đền đáp công lao đối với người có công với đất nước.

An sinh xã hội là vì dân, nên cùng với sự chăm lo và giúp đỡcủa Nhà nước, các tổ chức, doanh nghiệp và người dân cũng phải xắn tay áo cùng lo cho an sinh xã hội.

TS. HOÀNG NGỌC DỤ

(1), (2), (3): Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương (khóa X), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.