Việt gian còn giả đò yêu nước!”. Hai nhà cách nhau một hàng chè tàu. Thời gian trôi đi, những cành nhánh sum suê loài cây quê mùa ấy vươn dài ra, xoắn xuýt lấy nhau như lũy thành cách ngăn kiên cố. Đến cả con gà nhép nhà tôi còn đừng hòng chui lọt. Tự đời nảo đời nao, tôi vẫn nghe bà tôi và cả những người già khác trong xóm gọi ông cụ là Việt gian. Mãi tận sau này, khi học đến lớp tám, tôi mới biết cụm từ ấy mang hàm nghĩa miệt thị những người Việt phản quốc. Tựa một lời nguyền, hồi tôi còn tấm bé, bà cấm đàn cháu sang nhà ông cụ ấy chơi với câu hù dọa quen thuộc: “Ông ta là ông ba bị!”. 

Lên lớp chín, tôi vinh dự được chọn vào đội tuyển thi học sinh giỏi cấp huyện môn Lịch sử. Thế là đêm đêm nằm cạnh bà, tôi lại được nghe bà kể chi tiết chuyện làng đánh Pháp, đuổi Mỹ tự những ngày xưa rất đỗi hào hùng với một chất giọng dõng dạc dù đã ngoài tám mươi. Không trực tiếp ra chiến trận, nhưng bà luôn là hậu phương vững chắc để ông tôi rồi đến hai người con yên tâm nối bước nhau ra tiền tuyến đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhắc đến ông, nhắc đến những người con đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bà lại rưng rưng nước mắt. Bà tôi là một Bà mẹ Việt Nam anh hùng!

leftcenterrightdel
Minh họa ANH KHOA. 

 

Bà kể cho tôi rất nhiều chuyện. Song tôi nhớ nhất là câu chuyện liên quan đến ông cụ hàng xóm từ hơn nửa thế kỷ trước. Ông cụ vốn là một đảng viên gương mẫu, một chiến sĩ hăng hái. Nhưng chẳng hiểu sao, khi làng đang sục sôi khí thế đánh giặc, ông lại đột nhiên đi nuôi một tên lính Pháp. Năm đó, chiến dịch thất bại, làng phải hứng chịu nhiều thương vong, những người còn sống đồn thổi rằng vì ông cụ tiết lộ bí mật cho tên địch mà gây nên hậu quả khôn lường này. Tiếc là không ai bắt được quả tang, nên ông cụ vẫn nhởn nhơ đạp lên những lời gièm pha của thiên hạ mà sống. Song cái giá phải trả là một kiếp đơn thân mà ông cụ phải hứng chịu chưa đủ làm lòng bà tôi nguôi nỗi hận thù: “Đồ Việt gian bán nước! Người thân của bà vì ông ta mà phải chết oan đấy cháu ạ. Thế mà có lần ông nội mày còn chằm chặp bênh ông ta...”.

Những lần ngồi bên hiên đọc sách, tôi vẫn thường len lén ngắm ông cụ cuốc tơi doi đất bên mảnh vườn nhỏ bốn mùa tốt tươi rau trái, hoa màu hay đưa tay rải từng nắm tấm li ti cho lũ bồ câu trắng háu đói. Ông cụ sống một mình, việc gì phải bươn bả làm lụng vất vả đến vậy? Nhìn gương mặt gấp đầy những nếp nhăn khắc khổ, tôi đoán ông cụ trạc tuổi bà nội tôi. Đã tuột xuống cái dốc bên kia của cuộc đời, ông cụ vẫn cất cao bài ca lao động. Một con người như thế cũng có lúc sai lầm trầm trọng đến mức trọn kiếp phải đeo lên tấm lưng còng bia miệng nhân gian? Chắc ông cụ đang cố tỏ ra lạc quan, mạnh mẽ. Có lẽ nơi ngột ngạt nhất là nhà tù lương tâm...

***

Tôi nhận ra một cái Tết Độc lập nữa đang đến gần khi nhìn thấy ông cụ hàng xóm đang ngắm nghía không rời mắt ngôi sao vàng năm cánh rực rỡ đính trên nền đỏ huy hoàng của lá cờ Tổ quốc mà ông cụ mới mua. Buổi mờ sương, tôi đã thấy ông cụ loay hoay đẽo một cây tre suôn dài làm cột cờ thì phải. Hình như trải qua bao nắng mưa, cây cột cũ đã bị mục ruỗng. Cứ thế, tôi đứng bên cửa sổ âm thầm quan sát. Bỗng nhiên, cái lưỡi dao sắc lẹm vô tình phập vào ngón tay ông cụ, máu ri rỉ chảy ra. Ông cụ ngồi thụp xuống. Vội vàng mở ngăn kéo lấy hộp bông và băng gạc, tôi chạy ra cổng rồi nhảy tắt qua hàng chè rào sang hỏi thăm ông cụ: “Ông có bị làm sao không ạ?”. Ông cụ ngước mắt lên: “Ừ, ông không sao, chỉ như kiến cắn thôi mà!”.

Cẩn thận băng bó vết thương cho ông xong, tôi hào hứng giúp ông dựng cột cờ lên. Chẳng mấy chốc, lá cờ đỏ thắm đã bắt nhịp gió thu bay phấp phới trên nền trời xanh, bồng bềnh mây trôi và dịu dàng nắng mới. Ông cụ đưa cặp mắt rưng rưng xúc động nhìn lá cờ múa reo, rồi quay lại nhìn tôi, giọng run run như sắp vỡ òa: “Cảm ơn cháu nhé!”. Tôi được ông cụ mời vào nhà chơi. Căn nhà lụp xụp nhưng trong nhà thì gọn gàng và sạch sẽ. Trên bàn thờ, ông cụ treo ảnh Bác Hồ, hai bên là hai lọ hoa nhài mới cắm, trắng tinh khôi và tỏa hương thoang thoảng. Bên trái của căn phòng là một tủ sách bằng gỗ mun đựng đầy những tập thơ của Tố Hữu: “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và Hoa”... Dưới cái tủ kính cũ kỹ cạnh chiếc bàn ọp ẹp mà tôi đang ngồi có một bức ảnh đen trắng lờ mờ với dòng chữ viết bằng tiếng Pháp. Phút giây ấy, tôi chợt chột dạ nhớ đến câu chuyện bà nội kể hồi tôi còn là một học sinh lớp chín. Thấm thoát đã chục năm trôi qua...

Rót nước vối vào cái bát sứ sứt mẻ mời tôi uống, ông cụ ái ngại giải thích: “Nhà tôi lâu lắm rồi không có ai ghé đến. Thành thử cái bát này vừa để ăn cơm vừa để uống nước”. “Vâng ạ... - tôi đáp - Ông cứ để cháu tự nhiên...”. Không gian như chùng xuống, nằng nặng. Ngồi cạnh ông cụ, tôi chẳng biết nói chuyện gì. Hết ngó lên trần nhà nhìn những giọt hoa nắng rơi rơi từ kẽ nứt viên ngói vỡ lại nhìn qua ô cửa sổ ngắm mảnh vườn trĩu trịu ổi, na, bưởi, nhãn, ở dưới là một nấm mộ nhỏ xanh rờn cỏ rau má. Một làn gió rì rào từ ngoài sân ùa vào làm căn phòng bớt ngột ngạt hơn và thổi phăng mấy cọng tóc bạc dài lòa xòa để lộ một vết sẹo lớn trên vành tai ông cụ. Mắt tôi chăm chăm dừng lại tại đó một hồi khá lâu. Như nhìn thấu dấu chấm hỏi in nghiêng trong đầu tôi, ông cụ ôn tồn nói: “Đó là dấu vết viên đạn mà tôi đã đỡ cho một người bạn...”. “Ông thật là dũng cảm...”. “Không hẳn thế đâu cậu ạ...”.

Ông cụ chậm rãi lật lại từng trang quá khứ: “Ngày đó, tôi đã bí mật nuôi một anh lính đánh thuê của Pháp, tên Paix. Paix thực sự cảm thấy ân hận khi anh đã góp sức cùng quân đội Pháp gây ra những tội ác không thể chấp nhận được ở Việt Nam. Chuyện là thế này... Vào một lần bị quân ta bắn suýt chết, phải nằm quằn quại giữa rừng, Paix đã gặp tôi. Anh ta ngỏ ý muốn được tiết lộ những bí mật quân sự. Tôi đã dìu Paix về nhà chăm sóc. Mấy ngày sau, giặc Pháp bất ngờ đến làng liên tục xả súng càn quét. Những viên đạn vùn vụt bay vào nhà tôi. Bị thương ở chân, Paix không thể chạy được. Tôi đã đỡ được cho anh ta viên đạn đầu tiên. Nhưng một viên khác trong loạt đạn liên thanh đã nhằm vào trán anh ấy. Dân làng tìm thấy đôi giày của lính Pháp nơi căn buồng nhà tôi thì nghi ngờ tôi là Việt gian. Tôi biết dù tôi có giải thích thế nào thì cũng chẳng ai nghe, ai thấu”.

Thêm lần nữa, tôi được trở về thời chiến tranh bằng câu chuyện của một người già khác trong xóm. Người già thường lẩm cẩm quên đi nhiều thứ, song ký ức về những năm tháng nhuốm màu khói đạn và mưa bom ấy vẫn luôn hằn sâu như mới hôm qua, nhức nhối, tái tê, khắc khoải. Mọi thứ đã xa rồi, nhưng hãy còn đó những sự hiểu nhầm, những mối hận thù chưa được hóa giải. Tôi khẽ đặt bàn tay lên vai ông cụ: “Cháu hiểu lòng ông... Cháu biết đây là những điều ông đã dồn nén trong lòng rất nhiều năm qua...”. Ông cụ tiếp tục giãi bày: “Tuổi chín mươi, tôi không có gì hết: Không tiền bạc, không người thân, không vợ con... Bù lại, tôi vẫn luôn giữ vững một niềm tin vào cuộc sống và tuyệt đối trung thành với Đảng, với Bác Hồ. Mỗi ngày, tôi trò chuyện bên di ảnh Bác, tôi đọc thơ Tố Hữu để thêm tự hào về cách mạng, thêm yêu đất nước. Tôi trồng nhiều rau quả bán kiếm tiền để âm thầm ủng hộ quỹ vì trẻ em bị nhiễm chất độc da cam. Tôi treo cờ Tổ quốc lên cao để dặn con tim mình mãi khắc ghi hai tiếng Việt Nam. Và tôi nuôi nhiều bồ câu trắng bởi trong tiếng Pháp, từ “Paix” có nghĩa là hòa bình, chàng trai ạ... Tính ra, tôi cũng được nhiều đấy chứ!”.

***

“Ông cụ ngày xưa vốn là bạn thân của bà và ông nội mày đấy. Trời ơi, thế mà bao năm nay bà đã trách nhầm ông ấy... - Bà tôi vừa nói, vừa khóc sụt sịt khi tôi tường thuật lại toàn bộ diễn biến câu chuyện của ông cụ hàng xóm - Thảo nào trong lá thư cuối cùng viết vội gửi cho bà năm đó, ông nội mày viết ông cụ hàng xóm ấy là người tốt. Nhưng đoạn thư sau bị mưa làm ướt nhòe, bà không đọc được hết...”. “Bà đừng khóc nữa... Ông cụ bao dung sẽ không để bụng đâu. Ngày mùng 2 tháng 9 này, bà cháu mình sẽ cùng soạn cỗ cúng ông nội và các bác, bà nhỉ?”, tôi vỗ về. Rồi bà tôi bảo rằng, bà sẽ đích thân xuống bếp làm thật nhiều món ngon để còn mời ông cụ hàng xóm sang hưởng lộc và cùng ôn lại những chặng đường lịch sử...

Trước khoảnh sân nhỏ, nắng mới mùa Thu trải vàng như mật ong pha loãng. Những lá cờ đỏ sao vàng trước cổng hai nhà đồng loạt tung bay rạo rực. Mấy con chim bồ câu trắng dạn dĩ lượn sang nhà tôi nhặt nhạnh chỗ cơm nguội phơi trên chiếc nong tròn vành vạnh. Đâu đó, bên hàng chè tàu có tiếng ông cụ hàng xóm gọi tôi. Ông nói với tôi mà như muốn nhắn nhủ với bà nội đang lom khom nhóm lửa trong chái bếp nhỏ tỏa khói lam nghi ngút: “Lát sang nhà tôi hái na về cúng ông nội cậu nhé. Hồi còn sống, ông ấy thích ăn na lắm đấy!”./.

Truyện ngắn của PHAN ĐỨC LỘC