|
Trong cuộc kháng chiến đầy gian khổ và hy sinh chống kẻ thù xâm lược trước đây, dân tộc Việt Nam ta đã có nhiều cách đánh độc đáo, làm cho kẻ địch tuy mạnh hơn ta gấp bội cũng phải kinh hồn bạt vía, luôn sống trong tâm trạng nơm nớp lo sợ bị tấn công bất cứ lúc nào. Lối đánh đặc công của quân dân ta là chiến thuật đặc sắc, được ra đời trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên địa bàn huyện Tân Uyên, thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay. Cách đánh mưu trí dũng cảm, bí mật tiếp cận dùng mìn, lựu đạn để hủy diệt mục tiêu trong trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên trên tỉnh lộ 16 của du kích Tân Uyên, đêm 18 rạng sáng ngày 19-3-1948 đã trở thành nơi khởi phát của cách đánh đặc công. Từ đó, cách đánh đặc công được phổ biến rộng rãi ra toàn chiến trường khu 7, Nam bộ, Trung bộ và cả nước.
Vài nét về tình hình địch trong năm 1948
Những ngày cuối tháng 12-1947, núi rừng Việt Bắc vang dội tiếng súng truy kích, quân Pháp đại bại trong cuộc tiến công vào căn cứ kháng chiến của ta. Đó cũng là thời điểm ta phá tan âm mưu của thực dân Pháp nhằm kết thúc chiến tranh bằng chiến lược “chớp nhoáng” với cuộc tiến công quy mô lên căn cứ Việt Bắc, nhằm tiêu diệt bộ đội chủ lực và cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến của ta trong dịp Thu - Đông năm 1947.
Sau thất bại ở Việt Bắc vào cuối năm 1947, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh. Từ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, chúng chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, tiếp tục thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”; từ mở rộng phạm vi hoạt động chuyển sang củng cố vùng chiếm đóng. Chúng thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, ra sức củng cố ngụy quyền, phát triển ngụy quân, tranh thủ viện trợ. Trong đó chúng thực hiện triệt để chiến thuật Đờ Latua (De Latour).
Đờ Latua là một trong những viên tướng nổi tiếng ở Pháp, có kinh nghiệm về bình định lãnh thổ, được điều từ Marốc sang Sài Gòn chỉ huy quân Pháp ở Nam bộ nhằm nhanh chóng vãn hồi an ninh theo kỳ vọng của Pháp. Kế hoạch “vãn hồi” của Đờ Latua gồm 3 giai đoạn với 6 biện pháp. Ba giai đoạn đó là: 1. Thời kỳ đẩy lùi đối phương (các tiểu đoàn chính quy Pháp đẩy lùi các đơn vị chủ lực Việt Minh, phá hủy các căn cứ địa); 2. Thời kỳ củng cố (đặt các đồn bót trên 1 vành đai an ninh mới); 3. Thời kỳ tiêu trừ (tái lập sinh hoạt, xây dựng các cơ sở hành chính xã ấp, tổ chức hương dõng, bảo đảm an ninh vùng chiếm đóng).
Sáu biện pháp: 1. Rút bỏ những khu vực hẻo lánh khó cầm giữ; 2. Dùng công giáo vũ trang chống Việt Minh; 3. Mua chuộc sự hợp tác của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên; 4. Dùng chiến thuật đồn bót tháp canh; 5. Bao vây căn cứ Đồng Tháp; 6. Bao vây kinh tế Hậu Giang.
Với những nỗ lực nhằm thực hiện chiến lược mới, thực dân Pháp hy vọng sẽ cải thiện tốt hơn tình hình có lợi cho chúng trên chiến trường Nam bộ nói chung. Song trên thực tế, chiến lược mới của chúng vừa được triển khai đã bị những đòn tiến công của ta làm cho kẻ thù hết sức choáng váng.
Đối với thực dân Pháp, Nam bộ được coi là nơi “bình định” trọng điểm trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhằm biến Nam bộ thành kho dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh. Về mặt chiến lược, chúng coi Đông Nam bộ là chiến trường rất quan trọng, vừa là cửa ngõ phía đông, phía tây và phía tây bắc Sài Gòn, vừa là vùng nối liền Nam bộ với các tỉnh ven biển miền Trung và khu vực Tây nguyên rộng lớn, lại vừa là vùng tiếp giáp với chiến trường Campuchia về phía Đông Bắc.
Trong Hội nghị về phòng vệ Đông Dương ngày 4-1-1949 tại Sài Gòn, Cao ủy Pi-nhông đưa ra chủ trương: Dồn nỗ lực quân sự vào Nam bộ, tập trung bình định Nam bộ, thực hiện chiến thuật Đờ-la-tua.
Với ý đồ chiến lược nêu trên, Nam bộ nói chung và Đông Nam bộ nói riêng đã được thực dân Pháp ưu tiên đưa vào “tầm ngắm” trong chính sách bình định suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
Thực hiện chính sách “bình định”, đến tháng 11-1948, địch đã đóng trên địa bàn miền Đông Nam bộ 491 cứ điểm. Lực lượng vũ trang của chúng gồm 5.547 tên Pháp và lê dương; 13.664 lính ngụy. Trong năm 1948, địch đã tấn công ta 220 trận với quy mô từ 200 đến 1.000 quân (không kể những trận lùng sục với lực lượng nhỏ) vào 6 tỉnh xung quanh Sài Gòn.
Riêng ở Thủ Dầu Một, với quân số 6.800 tên, địch đóng tất cả 128 đồn bót (có 21 bót lính Cao Đài phản động), tăng 19 bót so với năm 1947. Chúng đã mở 298 cuộc càn quét vào hầu hết các xã. Chúng xây dựng hệ thống tháp canh trên những trục lộ giao thông quan trọng.
Tháp canh có cấu trúc hình vuông, mỗi cạnh dài 3m, tường xây bằng gạch cao trung bình 10m, nóc lợp tôn hoặc ngói. Tháp canh gồm 3 tầng, tầng trên cùng có lỗ châu mai. Xung quanh mỗi tháp canh bao một lũy đất dày cao 2m, có vách ken bằng các loại cây như cây dừa, tre. Bên ngoài có nhiều lớp hào lũy, kẽm gai, chông mìn, thả chó, ngỗng và hệ thống đèn chiếu sáng vào ban đêm. Cửa ra vào hẹp và quanh co, đóng kín bằng các ngựa trụ và buổi tối thường được gài kèm lựu đạn. Các tháp canh cách nhau 1km, có khi gần hơn (300 - 500m) tùy địa hình, miễn sao giáp nối được khoảng cách quan sát và yểm trợ lẫn nhau khi bị tiến công. Giữa 5 - 7 tháp canh có 1 tháp canh mẹ. Tháp canh mẹ đóng ở những điểm trọng yếu, được xây dựng kiên cố hơn, thường có một tầng ngầm dưới đất, giữa có lô cốt chỉ huy. Lực lượng trong mỗi tháp canh có từ 1 tiểu đội đến 1 tiểu đội tăng cường, do 1 hạ sĩ hoặc trung sĩ chỉ huy, được trang bị súng trung liên, phóng lựu, vũ khí cá nhân và nhiều lựu đạn. Riêng tháp canh mẹ (chỉ huy nhiều tháp canh con) có thêm hỏa lực cầu vồng để bắn yểm trợ và trang bị máy truyền tin chỉ huy.
Ngoài các chức năng nêu trên, hệ thống tháp canh còn làm chỗ dựa để từ đó địch tổ chức càn quét sâu vào căn cứ kháng chiến, mở rộng vùng chiếm đóng, mở rộng đến đâu đóng thêm tháp canh đến đó.
Hệ thống tháp canh, đồn bót của địch, với các hoạt động của nó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Việc di chuyển đi lại của các đơn vị vũ trang không còn được như trước. Giao thông tiếp vận của ta bị chia cắt, khống chế và bao vây các căn cứ kháng chiến của ta... Chính vì vậy, việc diệt cứ điểm, nhổ đồn, đánh tua, tháp canh là mối quan tâm thường trực của Tỉnh ủy, Đảng bộ, lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân Thủ Dầu Một cũng như các tỉnh trên chiến trường miền Đông Nam bộ.
Xây dựng hàng loạt đồn bót, tháp canh kết hợp với những cuộc càn quét là nội dung chủ yếu trong việc thực hiện chính sách “bình định” của thực dân Pháp. Vì vậy, muốn phá được chính sách “bình định” của giặc Pháp, ta phải tìm cách tiêu diệt bằng được tháp canh cùng với hệ thống phòng thủ kiên cố của chúng, trong khi ta chỉ có vũ khí thô sơ là chủ yếu. Chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh Khu 7 về việc nghiên cứu cách đánh tháp canh địch, một số đơn vị trên chiến trường miền Đông Nam bộ đã thử nhiều cách đánh nhưng chưa có hiệu quả.
Chiến thắng tháp canh cầu Bà Kiên chẳng những đánh dấu lần đầu tiên lính tháp canh bị tiêu diệt tại chỗ, mà
|
Sau khi nghiên cứu kỹ cấu trúc tháp canh và quy luật hoạt động của lính gác, đội du kích huyện Tân Uyên do Trần Công An (Hai Cà) chỉ huy tìm ra một cách đánh: sử dụng lực lượng nhỏ, bí mật đột nhập vào chân tường tháp canh, dùng thang leo lên thả lựu đạn vào trong tháp. Như thế, yếu tố có ý nghĩa quyết định là quá trình tiếp cận và leo lên tường tháp phải bảo đảm tuyệt đối bí mật, an toàn. Từ ý tưởng đó, tại căn cứ, đội du kích Tân Uyên bí mật tổ chức luyện tập cách đánh tháp canh. Các chiến sĩ chỉ mặc quần cụt, bôi bùn kín người cho hợp với màu đất. Thời cơ tiếp cận là lúc lính canh đổi gác hoặc bật lửa hút thuốc. Đầu thang có bọc vải để tránh gây tiếng động khi tiếp xúc với tường gạch.
Đêm 18 rạng 19-3-1948, tổ du kích Tân Uyên gồm 4 chiến sĩ và một cơ sở mật tổ chức đánh tháp canh cầu Bà Kiên trên tỉnh lộ 16. Vũ khí mang theo gồm 1 súng, 10 lựu đạn (1 của Mỹ, 9 tự tạo) và một thang tre (dùng để hái trầu, mượn của dân). Trận đánh diễn ra đúng như phương án luyện tập. Kết quả, tường tháp không đổ nhưng cả 11 tên lính bị tiêu diệt. Ta thu 8 súng và 20 lựu đạn. | quan trọng hơn là đã mở ra một lối đánh mới nhằm chống lại có hiệu quả chiến thuật tháp canh của Pháp.
Tháng 11-1949, Bộ Tư lệnh Khu 7 phối hợp với Tỉnh đội Biên Hòa tổ chức Hội nghị chuyên đề đánh tháp canh. Sau khi nghe báo cáo kinh nghiệm trận cầu Bà Kiên ngày 19-3-1948, phân tích những thay đổi đối phó của địch, Hội nghị quyết định: có thể sử dụng phương pháp bí mật đột nhập, dùng một loại mìn đặc biệt để tiêu diệt tháp canh. Khoa quân giới Khu 7 được giao nhiệm vụ sản xuất một loại mìn có thể đánh sập tường tháp. Sau một thời gian mày mò nghiên cứu, một loại vũ khí mới đã được chế tạo. Đó là một trái ba-dô-min, cấu tạo theo nguyên lý mìn lõm, có một cọc ngắn bảo đảm cho mìn lõm áp sát tường, cao thấp tùy cọc ngắn hay dài. Vũ khí mới được đem theo thử nghiệm đánh vào một bức tường bót cũ đạt hiệu quả công phá lớn, gây niềm tin phá được tháp canh. Vũ khí được đặt tên là F.T (phá tường, phá thành).Xưởng quân giới Khu 7, liên trung đoàn 301 - 310, xưởng Tỉnh đội Biên Hòa gấp rút sản xuất hàng trăm trái F.T. Tỉnh đội bộ dân quân Biên Hòa, Huyện đội Tân Uyên và Ban Chỉ huy liên trung đoàn 301 - 310 tuyển chọn 300 chiến sĩ ưu tú về khu vực Mã Đà, chiến khu Đ luyện tập đánh tháp canh bằng F.T.
Sau 3 tháng tập luyện thành thục, đêm 21 rạng ngày 22-3-1950, 300 chiến sĩ chia thành 50 tổ đồng loạt đánh 50 tháp canh trên các quốc lộ 1, 15, tỉnh lộ 24, 16. Kết quả, cả 50 tháp canh đều thủng một lỗ lớn đường kính 0,6 - 1,5 mét nhưng không cái nào bị sập. Phần lớn bọn lính trong tháp canh bị chết, bị thương, trừ vài tên sống sót trên tháp canh có chòi cao.
Thắng lợi diệt hàng loạt tháp canh đối với ta được đánh giá mới đạt một nửa kết quả vì tuy diệt được địch nhưng không phá hủy được tháp canh. Kinh nghiệm được rút ra là tiếp vào trái F.T, phải đánh thêm trái pê-ta vào mới phá sập được tháp canh, diệt nốt những tên sống sót. Xưởng quân giới lại sản xuất thêm những trái pê-ta từ 1-2 kg bằng thuốc nổ TNT bọc trong vỏ tôn và được đặt tên là F.T2.
Đêm 18 rạng 19-4-1950, tổ đánh tháp canh của Tân Uyên do Huyện đội phó Trần Công An chỉ huy, có sự tham gia của Tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ, với hai quả mìn F.T và F.T2 đã đánh sập hoàn toàn tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ hai. Kế đó, đầu tháng 5-1950, tổ du kích Tân Uyên đánh sập tháp canh Vàm Giá trên lộ 14, diệt một trung đội lê dương, thu 27 súng các loại và nhiều đạn dược, quân dụng. Phát huy thắng lợi trận Bà Kiên, Vàm Giá, lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Chợ Lớn, Gia Định, Tân An, Mỹ Tho tiếp tục đánh tan nhiều đồn bót, tháp canh của địch.
Với trận cầu Bà Kiên lần thứ hai và trận Vàm Giá, cách đánh tháp canh được hoàn thiện. Tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Bến Cát tháng 11-1950, cách đánh bí mật tiếp cận dùng mìn để hủy diệt mục tiêu càng làm đặc sắc thêm cách đánh đặc công. Từ đây, cách đánh tháp canh được phổ biến rộng rãi ra toàn chiến trường Khu 7, Nam bộ, Trung bộ và cả nước, đồng thời vận dụng không chỉ diệt tháp canh mà trong cả các mục tiêu khác của địch. Các tổ chức đơn vị vũ trang được biến chế thêm bộ phận đặc công.
Tân Uyên - Chiến khu Đ trở thành nơi khởi phát, thành quê hương của cách đánh đặc công. Du kích Tân Uyên, về sau thành lập đại đội bộ đội địa phương Nguyễn Văn Nghĩa, được công nhận là đại đội đặc công đầu tiên của cả nước. Chiến sĩ Trần Công An sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 19-3-1948 - ngày chiến thắng tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ nhất được lấy làm ngày truyền thống binh chủng đặc công của quân đội nhân dân Việt Nam. HÀ – THĂNG |