Làm việc tận tụy suốt đời
Đại tá, nhà báo Trần Tiệu sinh năm 1928. Thời niên thiếu, Trần Tiệu ham học và học giỏi, được nhận “Học bổng Bảo Đại”-học bổng dành cho các học sinh bậc tiểu học ở Trung Kỳ trước năm 1945. Để có thêm tiền cho việc học hành, Trần Tiệu còn đi làm gia sư cho con em các gia đình quan chức, khá giả ở quê Yên Thành (Nghệ An). Nhờ học giỏi, Trần Tiệu được Trường Quốc học Vinh (Nghệ An) nhận vào học bậc trung học. Trong thời gian học ở đây, Trần Tiệu còn dành thời gian đi học nghề (thực chất là làm thêm) ở Nhà máy xe lửa Trường Thi và với trí thông minh, tiếp thu nhanh công nghệ, kỹ thuật, trình độ tay nghề ngày một vững, Trần Tiệu được trả công tương đương thợ chính thức.
Từ đầu năm 1945, thanh niên Trần Tiệu được tiếp xúc với những người trong tổ chức Việt Minh và tham gia hoạt động cách mạng. Ông được giao nhiệm vụ phát hành Báo Kháng địch, tờ báo của Liên tỉnh Việt Minh Nghệ An-Hà Tĩnh. “Do tiếp xúc với báo chí tiến bộ và của Việt Minh nên tôi đã sớm hình thành niềm đam mê viết báo, đã biên soạn những tin tức in trên báo để viết truyền đơn, tuyên truyền trong học sinh, công nhân nơi tôi làm việc. Những ngày sôi động của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, tôi được Việt Minh huyện Yên Thành giao nhiệm vụ tham gia Ủy ban khởi nghĩa của làng Vĩnh Tuy quê tôi (xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, nay là xã Hợp Minh, tỉnh Nghệ An). Tôi là người trực tiếp treo cờ đỏ sao vàng và dán truyền đơn ở đình làng Vĩnh Tuy, đi cướp chính quyền ở huyện lỵ, là ủy viên Ủy ban cách mạng lâm thời của làng, phụ trách công tác tuyên truyền, văn hóa, giáo dục. Tôi tích cực soạn tài liệu tuyên truyền, vận động bà con học chữ và trực tiếp dạy học trong phong trào Bình dân học vụ ở làng”, Đại tá Trần Tiệu từng kể lại với tôi như vậy.
 |
| Đại tá, nhà báo Trần Tiệu. |
Sau Ngày toàn quốc kháng chiến, cũng như bao thanh niên nhiệt huyết ở Liên khu 4, năm 1947, Trần Tiệu là một trong những thanh niên đầu tiên của làng Vĩnh Tuy hăng hái gia nhập Quân đội. Nhờ có trình độ trung học và tay nghề được đào tạo khi làm việc ở Nhà máy xe lửa Trường Thi, chiến sĩ Trần Tiệu được biên chế về Công binh xưởng Đặng Thái Thân thuộc Quân giới Liên khu 4. Có đất “dụng võ”, ông tham gia nghiên cứu và chế tạo được nhiều loại vũ khí cho bộ đội đánh giặc; đồng thời tổ chức bảo đảm sửa chữa vũ khí và hướng dẫn cho dân quân tự vệ cách sử dụng, bảo quản vũ khí. Vừa làm chuyên môn, Trần Tiệu vừa tích cực tham gia công tác công đoàn ngành quân giới và được biểu dương điển hình trong phong trào thi đua phá kỷ lục của Ngô Văn Phú (người có nhiều thành tích trong lao động sáng tạo lúc bấy giờ). Với sự nhiệt tình và hiệu quả công việc cao, năm 1949, đồng chí Trần Tiệu được kết nạp vào Đảng.
Từ năm 1950 đến 1954, Trần Tiệu được điều động về công tác tại Phòng Chính trị, Cục Quân giới và Cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật). Ông tham gia chỉ đạo thành lập Đoàn Văn công Tổng cục Cung cấp, phục vụ tuyên truyền và làm công tác dân vận khi ta tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Sinh thời, Đại tá Trần Tiệu kể: “Có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với đời tôi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đó là những ngày ở Phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp, tôi tham gia đề xuất và triển khai hiệu quả mô hình “Ngày Đảng” từ năm 1953 trong cơ quan và đơn vị. Nội dung mô hình này là việc tích cực học tập đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu, tự phê bình của đảng viên; thi đua lập công, biểu dương người tốt, việc tốt... Nhờ đó đã góp phần xây dựng các tổ chức đảng vững mạnh, đoàn kết, động viên bộ đội hăng hái thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong công tác bảo đảm hậu cần, vũ khí, trang bị trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Một kỷ niệm nữa là tôi được cử đi phục vụ đoàn làm phim về Chiến dịch Điện Biên Phủ của nhà làm phim Liên Xô Roman Karmen. Tôi liên hệ và dẫn đoàn đến các đơn vị quân giới và hậu cần, ngoài công việc được giao, tôi còn chịu khó ghi chép như một thư ký. Vì thế, tôi có nhiều tài liệu để phục vụ viết báo sau này và được thưởng Huy hiệu Chiến sĩ Điện Biên Phủ”...
 |
| Đại tá, nhà báo Trần Tiệu. |
Năm 1964, sau khi tốt nghiệp Hệ Chính trị, Học viện Quân chính (nay là Học viện Chính trị), ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy và nghiên cứu; đi thực tế chiến trường và hoàn thành xuất sắc đề tài “Nghiên cứu tình hình chính trị tư tưởng bộ đội ở Mặt trận Đường 9-Quảng Trị (B5) trong chiến đấu với quân đội Mỹ”, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Để hoàn thành đề tài, ông trực tiếp vào chiến trường, cùng ăn, ở với bộ đội; khảo sát ở nhiều đơn vị khác nhau và cũng “suýt chết” vì bom đạn Mỹ đánh sập hầm trú ẩn.
Năm 1972, Trung tá, giảng viên Trần Tiệu được Tổng cục Chính trị điều động về công tác ở Báo Quân đội nhân dân làm phóng viên, biên tập viên. Về công tác ở Báo Quân đội nhân dân vào những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, song chiến sự ở miền Nam diễn ra ác liệt, đồng thời Mỹ trở lại đánh phá dữ dội miền Bắc, phóng viên Trần Tiệu thường xuyên có mặt ở tuyến lửa nóng bỏng của Quân khu 4 và các trận địa phòng không ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên; luôn chủ động đi cơ sở, bám đơn vị, bám sát bộ đội. Sau ngày miền Nam giải phóng, bước chân nhà báo Trần Tiệu lại có mặt ở những nơi bộ đội lao động, hàn gắn vết thương chiến tranh và theo các đơn vị chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc Tổ quốc. Do năng lực chuyên môn tốt và tổ chức làm báo hiệu quả, nhà báo Trần Tiệu được bổ nhiệm Phó trưởng phòng, rồi Trưởng phòng Quân sự (nay là Phòng biên tập Quốc phòng-An ninh), Báo Quân đội nhân dân. Lao động nghề báo được Trần Tiệu phát huy cao độ, cùng tập thể phòng tổ chức các vệt bài, tác phẩm báo chí nóng bỏng hơi thở chiến trường, những bài xã luận và bình luận quân sự sắc sảo, những bản tin chiến thắng kịp thời cập nhật trên những trang Báo Quân đội nhân dân. Cũng trong thời gian này, nhà báo Trần Tiệu được giao đi cùng với nhiều đoàn nhà báo quốc tế để trao đổi kinh nghiệm và thực tế ở các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Khi Bộ Quốc phòng thành lập Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (nay là Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam) năm 1981, Đại tá Trần Tiệu được cử sang giữ các cương vị Phó trưởng phòng, rồi Trưởng phòng-Chủ nhiệm Bộ môn lịch sử kháng chiến chống Pháp. “Từng trải qua những năm tháng chiến tranh nên tôi nhanh chóng tiếp cận công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử quân sự. Một trong những công trình lớn đầu tiên mà Viện triển khai là công trình “Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1945-1954” dày 1.200 trang in, mà tôi làm chủ biên, được Bộ Quốc phòng đánh giá cao, là tài liệu cơ bản để triển khai các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sau này. Thời gian làm việc ở Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, tôi có điều kiện nghiên cứu tư liệu, trực tiếp gặp nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh, anh hùng Quân đội. Tôi chịu khó ghi chép nên sau khi nghỉ hưu có nguồn tư liệu đồ sộ để tiếp tục viết báo, góp phần giáo dục thế hệ trẻ. Đồng thời, tôi cũng hướng dẫn, bồi dưỡng nhiều cán bộ trẻ trưởng thành cả trong làm báo và biên soạn lịch sử”, Đại tá Trần Tiệu nói với tôi, khi còn tại thế.
Đau đáu với quê hương
Năm 1994, Đại tá Trần Tiệu nghỉ hưu, nhưng ông không nghỉ việc, vẫn say sưa viết báo và tham gia công tác xã hội. Những lần gặp mặt các thế hệ Phòng Quân sự, ông lại “khoe” với tôi có bao nhiêu bài báo đã đăng trong năm qua, là cộng tác viên tiêu biểu của Báo Quân đội nhân dân và các tạp chí: Lịch sử quân sự, Hậu cần, Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế... Ông có “duyên” với giải thưởng, được tặng giải thưởng tác giả cao tuổi nhất trong nhiều cuộc thi báo chí và thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ông bảo: “Viết không chỉ để rèn khả năng tư duy mà cũng là hình thức góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ”.
Ông một lòng đau đáu với quê hương. Khi rời quê, ông là thanh niên tuổi đôi mươi, nghỉ hưu ở tuổi ngoài 65, gần nửa thế kỷ đằng đẵng xa quê. Những dịp công tác ở Quân khu 4, ông không có nhiều thời gian về thăm quê hương, họ hàng; gặp những người đồng hương trên chiến trường hay tại hội nghị là ông mừng lắm, hỏi thăm cặn kẽ... Từ tình yêu quê hương, ông lặn lội về xã, về huyện Yên Thành, tự nguyện làm không công khi nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn lịch sử làng Vĩnh Tuy. Ông có sáng kiến xây dựng thư viện và ủng hộ hơn 800 đầu sách phục vụ bạn đọc của xã Vĩnh Thành. Những đóng góp của ông góp phần cổ vũ văn hóa đọc và phong trào học tập ở địa phương.
Ở nơi thường trú, ông tham gia hoạt động xã hội, đảm nhiệm nhiều cương vị: Đảng ủy viên Đảng ủy phường Phương Mai, Bí thư chi bộ tổ dân phố; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường, Chủ tịch Hội Người cao tuổi phường Phương Mai, quận Đống Đa trước đây. Nhiều năm ông được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng danh hiệu "Người tốt, việc tốt” cấp quận và TP Hà Nội. Mãi khi ngoài 80 tuổi, sức khỏe không cho phép, ông mới tạm nghỉ công tác, nhưng vẫn tích cực sinh hoạt chi bộ đều đặn; chịu khó đọc báo, nghe đài, biên soạn tài liệu, tham gia nói chuyện truyền thống ở phường và các nhà trường trên địa bàn...