Vùng đất đông vui, tươi đẹp
Bản Hoa Tiến nép mình trên vùng đất mường Chiêng Ngam xưa, nơi hai con sông Nặm Hạt và Nặm Việc xanh mát chảy qua và dựa lưng vào dãy núi đá vôi Phá Én hùng vĩ. Cái tên Chiêng Ngam trong tiếng Thái mang ý nghĩa “vùng đất đông vui và đẹp”, là một trong 9 mường của người Thái cổ. Chiêng hay chiềng xưa kia là trung tâm của mường, vì thế đông vui; ngam nghĩa là đẹp. Nơi đây, những lớp trầm tích văn hóa vẫn còn lắng đọng qua từng nếp nhà, phong tục, lễ hội.
Đón chúng tôi đến bản là chị Lữ Thị Loan, Bí thư Chi bộ bản Bua, xã Châu Tiến, đồng thời là hướng dẫn viên du lịch. Theo chị Loan, thuở xa xưa, mường Chiêng Ngam là miền rừng hoang vu, cây cối rậm rạp, trải dài khắp thung lũng Châu Tiến ngày nay. Trong cuộc mưu sinh mở đất, 3 anh em Xiêu Bọ, Xiêu Ké và Xiêu Luông đã vượt núi, băng rừng tìm đến khai khẩn ruộng nương, dựng bản, lập mường, chiêu tập cư dân, đặt nền móng cho cuộc sống trù phú về sau. Để tưởng nhớ công ơn khai bản, lập mường, người dân đã lập đền Chiêng Ngam thờ phụng 3 anh em và tôn họ là thành hoàng. Đền được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh, như lời nhắc nhở con cháu về cội nguồn.
 |
Du khách tham quan sản phẩm thổ cẩm tại bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, tỉnh Nghệ An.
|
Cách bản Hoa Tiến không xa là danh thắng Hang Bua, di tích văn hóa-lịch sử cấp quốc gia, nằm trong dãy núi Phá Én thuộc xã Châu Tiến, gắn với truyền thuyết về lịch sử, phong tục, tập quán, nếp sinh hoạt văn hóa của đồng bào Thái mường Chiêng Ngam.
Truyền thuyết về Hang Bua cho đến nay vẫn còn lưu truyền ở xứ sở Phủ Quỳ. Tương truyền, thuở xưa xảy ra một trận lũ lớn làm đất trời đảo điên, nước dâng cuồn cuộn. Cư dân mường Chiêng Ngam tìm vào hang để lánh nạn, vừa múa hát vừa hòa tiếng cồng chiêng, tiếng sáo để chống lại cơn buồn ngủ và tránh lời nguyền hóa đá. Nhưng rồi không phải ai cũng vượt qua được thử thách. Nàng công chúa cùng những người khác và nhiều vật dụng sinh hoạt đã vĩnh viễn hóa đá trong lòng hang. Hang Bua còn có giếng nước trong veo, mát lành, góp phần tạo nên không gian vừa sống động vừa huyền bí, gắn với những tích xưa về cuộc đối đầu giữa thần Núi và thần Nước, mối tình thủy chung của nàng Ni tài sắc và chàng Ban chất phác.
Ngôi nhà sàn chúng tôi lưu trú nằm dưới tán cây cổ thụ. Chủ nhà nở nụ cười mời khách chén nước lá rừng còn ấm. Trong ánh đèn vàng dịu, gian nhà hiện ra mộc mạc, ấm cúng. Khung cửi đặt sát vách, những tấm thổ cẩm rực rỡ treo ngay ngắn, hoa văn hình chim, hình núi, hình dòng nước kể câu chuyện về đất và người Hoa Tiến.
Bữa cơm tối là một trải nghiệm khó quên. Mâm cơm bày trên sàn với xôi nếp nương dẻo thơm, gà bản nướng mắc khén, cá suối thơm lừng, măng rừng ngọt mát, chén chẩm chéo cay nồng. Mọi người quây quần, vừa ăn vừa nghe gia chủ kể chuyện bản làng.
Trước khi nhập tiệc, Nghệ nhân Ưu tú Sầm Thị Xanh-người lưu giữ các nét văn hóa đặc sắc của người Thái cổ-mời du khách ngồi thành vòng tròn. Bà lấy những sợi chỉ xanh, đỏ đã chuẩn bị sẵn, nhẹ nhàng buộc vào cổ tay từng người. Trong tiếng thì thầm như lời khấn, bà gửi gắm những mong ước giản dị mà sâu xa, cầu cho khách được đi nhiều nơi, ngắm nhiều cảnh đẹp, thưởng thức nhiều món ăn ngon và bình an trên mọi dặm đường.
Níu chân du khách bằng bản sắc
Khi bếp lửa hồng được nhóm lên giữa sân, đêm Hoa Tiến thực sự bắt đầu. Chum rượu cần được mở nắp, những ống cần tre cắm đều xung quanh. Ngụm rượu đầu tiên ấm nồng, lan dần từ đầu lưỡi xuống lồng ngực như kéo mọi người xích lại gần nhau hơn. Tiếng khèn, tiếng trống vang lên, các bà, các chị trong bộ váy áo truyền thống uyển chuyển bước vào điệu dân vũ. Những động tác mềm mại, nhịp nhàng hòa cùng làn điệu dân ca Thái khi trầm lắng, lúc rộn ràng khiến du khách dù xa lạ cũng muốn nhập cuộc.
Hòa vào tiếng trống, tiếng chiêng, Nghệ nhân Ưu tú Sầm Thị Xanh chậm rãi cất giọng. Làn điệu nhuôn mở đầu khoan thai, kể về thuở lập bản, lập mường. Rồi điệu lăm, điệu khắp nối tiếp nhau đưa người nghe lạc vào không gian văn hóa Thái cổ nơi miền sơn cước. Giọng hát của bà vang và rõ, có khi mềm như suối chảy, có lúc lại ngân dài như gió núi. Với người Hoa Tiến, những điệu nhuôn, lăm, khắp ấy không đơn giản chỉ là lời ca mà là ký ức, là căn cước văn hóa, là đặc sản của bản làng mỗi khi đón khách phương xa.
 |
| Nghệ nhân Sầm Thị Xanh (hàng đầu) cùng phụ nữ trong bản và du khách hòa vào làn điệu dân ca của đồng bào Thái. |
Bà Xanh kể: “Ngày trước, các điệu hát này theo tôi từ nương rẫy về bản, từ lễ hội đến đời sống thường ngày. Nếu mình không hát, không truyền lại thì sẽ mất đi”. Chính suy nghĩ ấy đã thôi thúc người phụ nữ Thái này dành cả cuộc đời gắn bó với dân ca, miệt mài truyền dạy cho lớp trẻ, để những làn điệu cổ không bị mai một giữa nhịp sống hiện đại.
Không chỉ có lời ca, câu hát, câu chuyện đêm Hoa Tiến còn được kể bằng sắc màu thổ cẩm. Ngay trong gian nhà sàn của nghệ nhân, những tấm vải dệt thủ công được treo ngay ngắn bên vách gỗ. Hoa văn hình chim, hình hoa, hình dòng suối uốn lượn hiện lên sống động trên nền vải chàm, đỏ, vàng. Bà Xanh nhẹ tay vuốt từng tấm thổ cẩm, giới thiệu cho du khách nghe về ý nghĩa của mỗi họa tiết, mỗi gam màu, đó là câu chuyện về núi rừng, về ruộng nương, về khát vọng no ấm, hạnh phúc của người Thái.
Nghề dệt thổ cẩm ở Hoa Tiến vẫn được gìn giữ như một phần máu thịt của bản làng. Từ khung cửi đặt nơi góc nhà, tiếng thoi đưa lách cách ngày này qua ngày khác, những người phụ nữ Thái cần mẫn dệt váy áo, khăn, túi, chăn... phục vụ sinh hoạt và làm quà cho du khách. Mỗi sản phẩm là kết tinh của đôi bàn tay khéo léo và sự kiên nhẫn, tỉ mỉ được truyền qua nhiều thế hệ.
Đêm càng về khuya, bếp lửa càng hồng. Trên nhà sàn, tiếng côn trùng rả rích, sương đêm len lỏi vào từng vách gỗ. Nhịp sống chậm rãi và cảm giác bình yên hiếm có.
Trong đời sống hiện đại, đất và người Hoa Tiến vẫn đang âm thầm lưu giữ hồn cốt văn hóa và kể những câu chuyện bản mường xưa. Năm qua, gần 20.000 lượt khách-trong đó có nhiều đoàn khách quốc tế-đến với bản Hoa Tiến. Điều đó càng cho thấy, bản sắc văn hóa luôn có sức hút riêng. Du khách tìm đến đây để được bước vào không gian văn hóa Thái cổ. Ở đó có tiếng hát nhuôn, lăm, khắp của đồng bào vang vọng giữa đại ngàn, có những món ăn mang hương vị núi rừng, có sắc thổ cẩm rực rỡ kể chuyện bản làng, có sợi chỉ cổ tay nhỏ bé nhưng chứa đựng cả tấm lòng người Thái. Tất cả hòa quyện, tạo nên sức hút riêng của mường Chiêng Ngam xưa, để mỗi du khách khi rời đi đều mang theo dư âm ấm áp của miền sơn cước.