Từ cách đây vài chục năm, đã xuất hiện những bài viết của nhiều nhà trí thức lớn ở phương Tây về Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (1945) ở Việt Nam. Nội dung những bài viết này chứng tỏ họ đã tìm hiểu, nghiền ngẫm, phát hiện những nguyên nhân mang tính tất thắng của Cách mạng Việt Nam. Tiến sĩ sử học Pháp Pi-e Ri-sác Phê-ray viết cuốn “Nước Việt Nam từ nguồn gốc xa xưa đến bây giờ”. Trong đó, tác giả đề cập đến ba điều kỳ diệu của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công ở Việt Nam. Ông phác họa bối cảnh: “Đại chiến thứ hai vừa kết thúc, thì một đất nước ở Đông Nam châu Á nhỏ bé bị đồng hóa đến không còn quốc hiệu trên bản đồ. Vậy mà bỗng bật ra cái tên Việt Nam tổng khởi nghĩa, khiến cho ai cũng quan tâm tìm hiểu (?!…).

“… Đến năm 1945, một chính đảng cách mạng Việt Nam chỉ có khoảng 5.000 đảng viên mà dám lãnh đạo cả nước làm cách mạng giải phóng, thì ắt phải có “cái gì” là sức mạnh chứ? Không ai khỏi ngạc nhiên khi chỉ thấy tổ chức Việt Minh – “Mặt trận dân tộc thống nhất” – để thêm bạn bớt thù làm sức mạnh. Tổ chức chính sách đó khiến người ta cảm nhận mặt trận Việt Minh như “tập hợp hỗn tạp” các giai cấp, các tập đoàn, cả những chính khách của chế độ cũ cũng gia nhập (!). Dĩ nhiên, chương trình hoạt động trong tổ chức đó không bộc lộ chủ nghĩa cộng sản và vấn đề ruộng đất. Lúc này cái “cấu trúc dọc” (Structure Verticale) của Đảng như thể không còn nữa, nó biến đi trong “mặt bằng cấu trúc” các đoàn thể (Structure horizontale). Nhưng không có nghĩa là đảng cách mạng mất đi, mà hóa thành “trục quay” lịch sử chính trị, cái “cột sống” của phong trào. Mục tiêu trọng yếu của chính đảng hòa đồng trong “quyền lợi” của quảng đại quần chúng nhân dân, của các dân tộc Việt Nam. Biệt tài tổ chức tập trung sức mạnh vào cuộc tổng khởi nghĩa là “điều kỳ diệu” trong tình thế các đối lực giằng xé quyết liệt. Ngoài Việt Minh, không đảng phái nào có thể làm được.

Về phía nước Pháp vào thời điểm ấy, Đô đốc Đờ-cu, toàn quyền Đông Dương cũng có một sách lược khôn ngoan “Pháp-Việt đề huề”…, nhưng lại đưa ra cái luận đề “tồn tại của Việt Nam trong khối liên hiệp Pháp”. Câu nói không hợp thời khiến cho người dân Việt Nam nổi giận, những nhà chính trị Pháp thì cảm nhận cái tên gợi tính “phù phiếm” không có tác dụng gắn kết được Việt-Pháp. Còn phía người Nhật lúc đó đương có mặt ở Đông Dương biết lợi dụng tâm lý chán chường của dân chúng Việt Nam, cả tầng lớp vốn thân Pháp, họ liền tung ra luận điểm “Người da vàng với người da vàng” của cái thuyết Đại đông Á. Họ đợi thời hành động quyết liệt. Cái giờ “G” 9-3-1945 đến, họ đột ngột loại ngay Pháp trên toàn cõi, đặt lên chiếc ghế “quyền hành” một con rối thân Nhật. Kích động chủ nghĩa chủng tộc để thâu tóm lực lượng. Nhà cầm quyền Pháp không chống cự nổi đành khuất phục. Một số đảng phái chính trị Việt Nam thân Hoa, thân Pháp bị choáng ngợp trước “cái bẫy” đồng bang, đồng chủng liền bám theo.

Riêng mặt trận Việt Minh không một chút mơ hồ, họ kiên định chủ trương đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Chính vào lúc bàn cờ chính trị thế giới biến động như chớp, Việt Minh kịp ra quyết định hết sức tỉnh táo: Đứng hẳn về phía Đồng minh chống phát-xít, kẻ thù nhân loại, chống Nhật ở Đông Dương. Bỗng nhiên họ nổi lên, được thế giới cảm tình ủng hộ phong trào đấu tranh của dân tộc nhỏ bé, càng gia tăng cho họ sức mạnh hành động. Đó là điều kỳ diệu thứ hai của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.

Nhưng để biến ước mơ mục tiêu thành hiện thực, phải có bộ óc siêu việt, tài phân tích sáng suốt đến mức tiên tri trên mọi bình diện quân sự, chính trị xã hội trong nước và thế giới. Phát hiện đúng diễn biến thời cuộc có lợi cho cách mạng Việt Nam thì mới có thể giành kết quả.

Chính vào thời điểm xảy ra “sự kiện sét đánh”, 9-3-1945, tác động tâm lý rất mạnh. Các nhà lãnh đạo Việt Nam lúc ấy chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền. Cụ Hồ đã kịp giơ tay ngăn lại cuộc “nổi dậy non” tránh được sự tổn thất nặng nề trước đội quân phát-xít Nhật ở Đông Dương còn rất hùng hậu. Nó đang nuôi tham vọng tạo lập bàn đạp Đông Dương để phản công chiến lược vào phe Đồng minh.

Cụ Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cách mạng Việt Nam có thắng lợi không là phải biết đợi thời cơ chín muồi, đón đúng lúc, sớm hay muộn đều dẫn đến thất bại. Cần hết sức tỉnh táo theo dõi, khi phe đồng minh toàn thắng, phát-xít Nhật sụp đổ hoàn toàn… đó là thời cơ ngàn năm có một, phải nhất tề vùng lên Tổng khởi nghĩa”.

… Đúng giữa tháng 8-1945, thời cơ ấy xuất hiện, Cụ Hồ liền phát lệnh cả nước nổi dậy khởi nghĩa… Chỉ hơn một tuần, khắp ba kỳ sôi sục vùng lên giành chính quyền, thắng lợi rất nhanh gọn.

…..

Những năm giữa thế kỷ 20 thế giới đại loạn, vật chất tàn bạo đang chế ngự toàn cầu, phải mẫn tuệ lắm mới nhìn ra “cái sức” Việt Nam lúc đó. Tiến sĩ P.Ri-sác Phê-ray giới thiệu với thế giới: “Thiên tài lãnh đạo của Cụ Hồ Chí Minh, tập trung sức mạnh cả dân tộc và nắm bắt đúng thời cơ hành động” là ba điều kỳ diệu làm nên Tổng khởi nghĩa toàn thắng. Tạo thành mốc son sừng sững chói lọi lịch sử giải phóng dân tộc, không chỉ của Việt Nam mà còn là mốc son giành độc lập tự do của mọi dân tộc bị áp bức trên hành tinh.

NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG