“Rằng hay thì thật là hay/Nhưng mà trong đó đắng cay cũng nhiều”, đó là ý kiến của một chuyên gia kinh tế khi đánh giá về hiệu quả các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) Việt Nam. Theo chuyên gia này, phát triển KCN, KCX là giải pháp và động lực quan trọng để Việt Nam tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch đã dẫn đến nhiều diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các KCN, KCX cũng đã đến mức báo động...

Khu công nghiệp và chế xuất Linh Trung III, một điển hình về làm ăn tốt của Tây Ninh nhưng vẫn còn không ít diện tích đất bỏ hoang.

Phép màu từ KCN, KCX

Mới đây, cùng Đoàn công tác của Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đến thăm và làm việc tại KCN Trảng Bàng; KCN và chế xuất Linh Trung III thuộc huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay nhanh chóng của vùng đất anh hùng này. Từ một huyện bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, nhờ phát triển hai KCN mà Trảng Bàng đã trở thành huyện giàu có nhất của tỉnh Tây Ninh. Theo báo cáo của lãnh đạo huyện Trảng Bàng, hai KCN  đã  thu hút được 155 dự án đầu tư; có 116 dự án đã đi vào hoạt động góp phần giải quyết việc làm cho gần 3 vạn lao động là người Việt Nam và hơn 700 lao động là người nước ngoài với thu nhập cao hơn gấp nhiều lần so với thu nhập bình quân của tỉnh.

Không chỉ riêng Tây Ninh mà tại hầu hết các địa phương trong cả nước, KCN, KCX như có phép màu, góp phần làm chuyển biến nhanh bộ mặt các xóm làng, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho người lao động. Thành phố Hồ Chí Minh, nơi ra đời KCN, KCX đầu tiên của cả nước vẫn đang là đầu tàu phát triển trong KCN, KCX. Trong 6 tháng đầu năm nay, tổng vốn đầu tư vào các KCN, KCX của Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt 319,55 triệu USD, tăng 176% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài đạt 99,11 triệu USD (tăng 91%), tổng vốn đầu tư trong nước đạt 225,44 triệu USD (tăng 293%). Trong thời gian này, tổng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN, KCX đạt 1,6 tỷ USD, tăng 34% so với cùng thời gian này năm 2009.

Ở phía Bắc, Phú Thọ là tỉnh đã gặt hái nhiều thành công về việc phát triển KCN. Trong 6 tháng đầu năm 2010, tỉnh đã cấp phép đầu tư cho gần 20 dự án lớn, trong đó có 12 dự án đầu tư vào KCN Thụy Vân, Trung Hà và cụm công nghiệp Bạch Hạc với tổng số vốn đăng ký hơn 1.300 tỷ đồng.

Một góc khu công nghiệp cảng dầu khí (Vũng Tàu).

 Phát triển nhanh, hết  đất trồng lúa

Không thể kể hết được những đóng góp to lớn mà các KCN, KCX đã mang lại cho các địa phương và cả nước. Tuy nhiên, do việc phát triển khá nhanh, quy hoạch thiếu “tầm nhìn xa” mà nhiều nơi đã dùng đất trồng lúa màu mỡ để làm KCN, KCX, đe dọa an ninh lương thực. Theo báo cáo mới đây của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 2000 đến nay, tính trung bình mỗi năm nước ta mất 59.000 ha diện tích đất lúa. Đó là chưa kể đến không ít diện tích đất lúa gần các khu công nghiệp, khu chế xuất bị ảnh hưởng trực tiếp từ nước thải, khói bụi, làm giảm năng suất lúa và ảnh hưởng nặng đến môi trường.

Rất nhiều cánh đồng "bờ xôi, ruộng mật" mỗi năm hai vụ lúa của Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Tiền Giang, Long An… đã được chuyển thành KCN, KCX, trong đó còn khá nhiều diện tích đất sau khi xây hàng rào lại để cho cỏ mọc, điển hình như khu công nghiệp Lai Vu (Hải Dương) của Vinashin. Khu chế xuất Hải Phòng (nay đổi tên là KCN Đồ Sơn) được khởi công từ 15 năm nay, nhưng hiện vẫn còn khá nhiều đất để hoang hóa. Ngay tại KCN và chế xuất Linh Trung III, một điển hình về làm ăn có hiệu quả của tỉnh Tây Ninh, chúng tôi để ý vẫn còn khá nhiều khu đất cỏ dại mọc.

Tiến sĩ Lưu Đức Hải, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) cho rằng hiện nay, việc bố trí sử dụng đất tại các khu công nghiệp chưa hợp lý và còn lãng phí. Hiện tượng này sẽ làm giảm đi quỹ đất để phát triển đô thị trong tương lai.  Hiện Việt Nam có khoảng 223 KCN, trong đó có 171 khu đã hoạt động với tổng diện tích 57.300ha. Như vậy, trung bình mỗi KCN có diện tích khoảng 250ha với tỷ lệ lấp đầy 46% và vẫn còn nhiều diện tích để trống.

Báo động về ô nhiễm môi trường

Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có nơi chỉ đạt khoảng 20%, như Bà Rịa-Vũng Tàu, Vĩnh Phúc… Một số KCN có xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, các cơ quan chuyên môn đều có chung đánh giá: Nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Tác nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này chính là hơn 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai. Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 KCN, KCX đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận...

Nhìn chung, hầu hết các KCN trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các KCN, đang phải đối mặt với thảm họa về môi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp... Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, có khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt.

Cần cái nhìn toàn diện hơn về KCN, KCX

 Phát triển KCN, KCX  được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu giúp các địa phương phát triển công nghiệp, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, các KCN chỉ thật sự mang lại hiệu quả kinh tế khi nó được quy hoạch và đầu tư xây dựng phù hợp với điều kiện cụ thể và môi trường đầu tư của từng địa phương, phù hợp với quy hoạch, chiến lược phát triển ngành của từng vùng và cả nước. Chính vì vậy, theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, cần phải có cái nhìn toàn diện hơn về KCN, KCX.  Quy hoạch phát triển KCN và KCX phải đứng trên quan điểm toàn diện, không vì mục đích cục bộ của địa phương mà phải vì lợi ích chung của cả nước, của từng khu vực để khai thác tài nguyên, nguồn lực có hiệu quả. Phải trên cơ sở chiến lược thị trường mà xây dựng, phát triển các ngành hàng, các loại sản phẩm mũi nhọn có lợi thế, có sức cạnh tranh. Việc bố trí các các KCN, cụm công nghiệp phải  bảo đảm kết hợp hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường. Khi bố trí các KCN, KCX phải tính đến các dự án đó tác động môi trường ở mức độ nào, để có hướng xử lý hoặc quyết định đầu tư hay không đầu tư. Trong quá trình xét duyệt dự án phải xem xét đến hệ thống xử lý chất thải, hệ thống xử lý môi trường. Phải có chế tài xử lý bảo đảm tính răn đe đối với những cơ sở không có hoặc không thực hiện xử lý môi trường, đặc biệt là hệ thống nước thải, xử lý bụi, tiếng ồn…

Nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX cũng đang là vấn đề có tính thời sự, được nhiều cấp, nhiều ngành quan tâm. Theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện mới có khoảng 2% trong tổng số công nhân tại các KCN, KCX của cả nước được thuê nhà do chủ doanh nghiệp và tổ chức công đoàn xây dựng. Còn lại, phần lớn công nhân phải sống trong các khu nhà trọ tạm bợ, thiếu thốn, không bảo đảm an ninh trật tự; phần lớn phòng trọ do các hộ dân xây dựng chưa đáp ứng được các quy định tối thiểu về nhà trọ do Bộ Xây dựng ban hành. Chính vì vậy việc quy hoạch phát triển các KCN, KCX phải  đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.

Bài và ảnh: Đỗ Phú Thọ