QĐND - Có thể coi Nghị quyết 13 của Chính phủ về một số nhóm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường là “phao cứu hộ” doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Việc Chính phủ đồng ý với các nhóm giải pháp Bộ Tài chính đề xuất, không chỉ thể hiện sự chia sẻ khó khăn với cộng đồng doanh nghiệp mà còn khẳng định quyết tâm vực dậy nền kinh tế. Vấn đề quan trọng là cần đưa ngay “phao cứu hộ” này đến đúng các đối tượng.
Ngay từ đầu năm 2012, Chính phủ đã đề ra mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh để ngăn chặn kịp thời tình trạng số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng. Nghị quyết 13 của Chính phủ vừa được ban hành đã có sự kết hợp đồng bộ của các giải pháp về lãi suất, cơ cấu tín dụng, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng; chính sách chi tiêu công; chính sách miễn, giảm, giãn thuế; điều hành giá; cải cách hành chính với những giải pháp Chính phủ đã và đang chỉ đạo thực hiện từ đầu năm 2012 để bảo đảm tính nhất quán trong điều hành kinh tế vĩ mô.
 |
|
Do sản xuất đình trệ, sản phẩm than khó tiêu thụ trong những tháng đầu năm 2012. Ảnh: Hải Hà
|
Sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách là thể hiện việc “đi hai chân cho đều” qua thực hiện chính sách tài khóa gắn với chính sách tiền tệ. Thực tế, từ đầu năm 2012, Chính phủ đã kịp thời thực hiện các giải pháp tài chính (giãn, giảm thuế cho doanh nghiệp), từ đó doanh nghiệp sử dụng chính số tiền nộp thuế để quay vòng đầu tư sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, có những giải pháp Chính phủ đã, đang làm là kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả là một trong những giải pháp cơ bản của ổn định kinh tế vĩ mô. Có duy trì được mức lạm phát thấp, ổn định, chúng ta mới hạ được mặt bằng lãi suất, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng với chi phí thấp để có thể giảm giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh. Trong thực thi chính sách này, không phân biệt doanh nghiệp lỗ hay lãi được thụ hưởng (do tính đồng bộ của các giải pháp, đối với cả biện pháp chi tiêu công, cả biện pháp giãn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, cả biện pháp giảm 50% tiền thuê đất…), mà sẽ theo mức độ khó khăn của từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, của quy mô doanh nghiệp (chủ yếu doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động). Một số giải pháp không phân biệt quy mô doanh nghiệp, mà tập trung vào chi tiêu công, đặc biệt kịp thời giải ngân vốn đầu tư từ Ngân hàng Nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, thực hiện đầu tư kiên cố hóa kênh mương, hạ tầng giao thông nông thôn, nuôi trồng thủy sản, trạm bơm… Từ đó, cũng sẽ giúp doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, sắt thép tiêu thụ được hàng hóa.
Đối với gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng, Bộ Tài chính chưa tính đến giãn thời hạn nộp tiền sử dụng đất 12 tháng. Nhưng với chính sách của Chính phủ tiếp tục mở rộng diện giảm 50% tiền thuê đất, không chỉ cho doanh nghiệp sản xuất mà cả doanh nghiệp thương mại, dịch vụ trong năm 2012 phải xác định giá thuê đất theo Nghị định 121/2010/NĐ-CP; đồng thời giãn 6 tháng thuế giá trị gia tăng cũng áp dụng cho doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bất động sản... không những các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực bất động sản có thể được hưởng lợi mà còn có tác động lan tỏa đến các doanh nghiệp sản xuất sắt thép, xi măng, vật liệu xây dựng.
Trong dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2012, số thu tiền sử dụng đất là 37 nghìn tỷ đồng, tuy nhiên quy mô số tiền sử dụng đất được giãn là bao nhiêu, còn tùy thuộc vào mức độ khó khăn của từng dự án, khả năng cân đối của ngân sách địa phương mà UBND cấp tỉnh báo cáo Thường trực HĐND xem xét trước khi thực hiện. Ngoài việc hỗ trợ doanh nghiệp, phát triển thị trường, Chính phủ vẫn tính đến việc bảo đảm thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Do đó, các giải pháp cũng tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn (2000 tỷ đồng tín dụng kiên cố hóa kênh mương, phát triển giao thông nông thôn, nuôi trồng thủy sản, làng nghề…); thực hiện lộ trình cải cách tiền lương. Đặc biệt, nguồn vượt thu Ngân sách Nhà nước năm 2011, cũng đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý bổ sung 750 tỷ đồng hỗ trợ nhà cho người có công; bổ sung 100 tỷ đồng thực hiện cho phụ nữ nghèo vay thông qua Quỹ Tình thương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam…
Tất nhiên các nhóm giải pháp này sẽ kịp thời tháo gỡ khó khăn trước mắt của doanh nghiệp (hàng tồn kho cao, chi phí đầu vào cao, đặc biệt là chi phí tài chính). Những giải pháp trung và dài hạn vẫn được Chính phủ thực hiện đồng bộ theo các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội để thực hiện kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Một số giải pháp về miễn thuế khoán và giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số đối tượng thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Bộ Tài chính sẽ thay mặt Chính phủ báo cáo ra kỳ họp thứ 3 (tháng 5-2012).
Trong tổ chức thực hiện, sẽ hạn chế đến mức thấp nhất “độ trễ chính sách”, cụ thể sẽ quyết liệt trong triển khai hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 13 ngay trong tháng 5-2012 bảo đảm đúng đối tượng, đúng địa chỉ; bảo đảm tính công khai, minh bạch; theo dõi sát tình hình kinh tế vĩ mô và tài chính doanh nghiệp để có những giải pháp điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp với tình hình.
Ngoài việc triển khai Nghị quyết 13 của Chính phủ, việc điều hành phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là điều vô cùng cần thiết. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ là hai công cụ quan trọng trong điều hành, quản lý kinh tế vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào, nhất là trong thời điểm nền kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Hai chính sách này tuy có những chức năng riêng, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế chung của mỗi quốc gia. Sự phối hợp giữa hai chính sách này nhằm đưa nền kinh tế vận hành đúng quy luật của nền kinh tế thị trường, khai thác được động lực to lớn của nền kinh tế thị trường phục vụ phát triển.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, sự phối hợp này sẽ gặp phải những vấn đề phức tạp về mức độ, thời điểm, cách thức và cơ chế vận hành nhằm nhận được những tác động qua lại, cùng chiều và tối ưu nhất của hai chính sách này để đồng thời phục vụ hai mục tiêu: Ổn định và phát triển.
Vấn đề cơ bản là cần phối hợp hai chính sách này như thế nào cho hợp lý và tối ưu. Ở nước ta, trong những năm gần đây, sự phối hợp của hai chính sách này là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn chặn suy giảm, kiểm soát lạm phát và bảo đảm tăng trưởng bền vững trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Theo đó, chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, thận trọng và liên tục được điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô trong từng giai đoạn, còn chính sách tài khóa được hoàn thiện theo hướng bảo đảm thống nhất, minh bạch và công bằng.
Tiến sĩ Vũ Nhữ Thăng - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính