Sự nợ nần chồng chất của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) và cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu đã khiến nhiều người lo ngại về khả năng thanh toán của Việt Nam trong các món nợ nước ngoài. Tuy nhiên, theo ý kiến của Bộ Tài chính, nợ nước ngoài của Việt Nam vẫn ở ngưỡng an toàn.
Vay nợ để phát triển
Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh với các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII vừa qua. Theo đồng chí Bộ trưởng: So với khu vực và trên thế giới, nền kinh tế nước ta vẫn đang ở trình độ phát triển thấp, nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo các nhu cầu chi phát triển sự nghiệp văn hóa xã hội là rất lớn. Mặc dù thu ngân sách Nhà nước (NSNN) những năm gần đây có tăng khá nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu chi, vì thế vẫn phải bội chi để tăng thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển. Việc chấp nhận bội chi NSNN thực chất là tranh thủ nguồn vay để đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, phục vụ cho phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chủ trương định hướng XHCN.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, nợ quốc gia đến 31-12-2009 chiếm 38,9% GDP; nợ Chính phủ chiếm 41,9% GDP, trong đó nợ trong nước chiếm 41,2%, nợ nước ngoài chiếm 58,8%. Trong nợ nước ngoài 86,5% là các khoản vay trung và dài hạn với lãi suất rất ưu đãi, thời gian ân hạn lớn. Ví dụ: Vay của Ngân hàng Thế giới (WB) có thời hạn là 40 năm, trong đó 10 năm ân hạn, lãi suất 0,75%/năm; vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có thời hạn là 30 năm, trong đó 10 năm ân hạn, lãi suất 1%/năm; khoản vay của Chính phủ Nhật Bản có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất 1 - 2%.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, cơ cấu nợ hiện tại ở nước ta là hợp lý, khá ổn định và tương đối bền vững; nhiều tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm quốc tế xếp nước ta vào nhóm các quốc gia có mức nợ nằm trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước có gánh nặng về nợ.
 |
|
Khó khăn nghiêm trọng của Vinashin bắt đầu từ việc sử dụng không hiệu quả nguồn vốn vay. Trong ảnh: Đóng tàu bằng nguồn vốn đi vay của Vinashin. Ảnh : Mạnh Hưng
|
Các chỉ tiêu nợ của Việt Nam đều ở ngưỡng an toàn
Tại hội thảo “Quản lý và giám sát tài chính công trước những vấn đề về nợ công ở châu Âu và những hàm ý đối với Việt Nam” vừa được tổ chức với sự tham gia của nhiều chuyên gia kinh tế trong nước và nước ngoài, các ý kiến tham luận đều cho rằng, các chỉ tiêu nợ của Việt Nam đều ở ngưỡng an toàn.
Phát biểu tại Hội thảo, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) Nguyễn Thành Đô cho rằng, giới hạn an toàn nợ quốc gia ở mỗi nước khác nhau, chẳng hạn với Nhật Bản trên 100% GDP vẫn có thể ở mức an toàn, các nước khác có thể 60% là rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công.Tại Việt Nam, theo quy định hiện hành, nợ công phải dưới 50 % GDP. Như vậy, trong thời điểm hiện tại, tỷ lệ nợ Chính phủ so với GDP, các chỉ tiêu nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia đều trong giới hạn an toàn. Điều đáng phấn khởi là phần lớn các khoản vay nước ngoài của Chính phủ có kỳ hạn dài, lãi suất ưu đãi. Mức lãi vay trung bình nợ nước ngoài của Chính phủ năm 2009 là 1,9%/năm, năm 2010 là 2,1%/năm.
Tại cuộc Hội thảo, đại diện Bộ Tài chính cho biết thêm: Mặc dù các năm 2009, 2010 đã phải tăng mức bội chi NSNN và tăng mức phát hành trái phiếu Chính phủ cho đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu chống suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, nhưng đã đảm bảo trả nợ đầy đủ các khoản nợ đến hạn, không có nợ xấu; dư nợ Chính phủ, dư nợ quốc gia vẫn được kiểm soát, trong phạm vi an toàn cho phép theo Chiến lược phát triển tài chính quốc gia đến năm 2006-2010.
Cần công khai, minh bạch các khoản nợ công
Nợ nước ngoài được xem như “con dao hai lưỡi”. Nếu chúng ta đi vay với lãi suất hợp lý và sử dụng tốt vốn vay thì sẽ là động lực phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh, ngược lại nếu nếu quản lý không tốt thì con cháu chúng ta sẽ chịu hậu quả. Bài học về các khoản nợ nần chồng chất của Vinashin, trong đó có khoản vay của Chính phủ bảo lãnh huy động trái phiếu quốc tế 750 triệu USD vẫn còn đó.
Theo ông Nguyễn Thành Đô, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), hiện công tác quản lý nợ nước ngoài Việt Nam đã được đăng tải công khai trên website Bộ Tài chính tại địa chỉ www.mof.gov.vn). Công tác thống kê nợ trong nước cũng đang được Cục quản lý nợ và Tài chính đối ngoại gấp rút hoàn thiện để sớm công bố vào tháng 12-2010. Khi đó, bức tranh tổng thể về nợ công của Việt Nam sẽ sáng tỏ. Quốc hội, Chính phủ và người dân có thêm kênh thông tin giám sát các nguồn vốn vay được dùng vào việc gì, chi tiêu ra sao và có hiệu quả hay không và dân biết còn tham gia trả nợ với Chính phủ…
Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, cần phải tiếp tục công khai, minh bạch các khoản nợ công và tăng cường công tác giám sát, kịp thời cảnh báo những khoản vay nhiều rủi ro, giám sát việc sử dụng vốn vay hiệu quả và có phương án về thời hạn trả nợ . Ông Seth Bleiweis, Chuyên gia Bộ Tài chính Mỹ cho rằng, một trong những yếu tố cơ bản cho chiến lược quản lý nợ công là tính minh bạch. Ví dụ, khi thực hiện đấu giá trái phiếu Chính phủ, lịch đấu giá được công bố trước hàng quý cho những nhà đầu tư để họ có thể phân tích dự báo, cân nhắc các ý tưởng đầu tư.
Ở góc độ tài chính tiền tệ, Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính tiền tệ Quốc gia cảnh báo, khủng hoảng nợ châu Âu có ảnh hưởng đến tình hình phát triển và tăng trưởng của Việt Nam, lãi suất thấp ở các nước trong khi cao ở Việt Nam sẽ là bất lợi về chi phí cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, Chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ nợ công thông qua kiểm soát thâm hụt ngân sách, có chiến lược về huy động sử dụng hiệu quả nợ công trong trung và dài hạn.
|
“…Yêu cầu đặt ra là phải sử dụng các khoản vay có hiệu quả, quản lý chặt chẽ, chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng và phải bảo đảm khả năng trả nợ trong dài hạn. Đối với các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp do Chính phủ bảo lãnh hoặc Chính phủ vay về cho vay lại cũng phải tính toán kỹ hiệu quả và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Trên tinh thần đó, Chính phủ đang chỉ đạo hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý nợ công; đồng thời, giao các cơ quan tham mưu nghiên cứu diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ tại Hy Lạp và các nước châu Âu, đề xuất các giải pháp đối phó với các tác động tiêu cực, trong đó có tác động của việc giảm giá đồng Euro đến nền kinh tế nước ta; xây dựng chiến lược quản lý nợ quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 và tính toán khả năng vay, trả nợ đến năm 2030, 2050.”
(Phát biểu của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng tại Quốc hội tháng 6 năm 2010)
|
Đỗ Phú Thọ