QĐND - Nghị quyết số 13/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường ban hành vào ngày 10-5-2012 đã được giới doanh nhân trong nước kỳ vọng. Giải pháp của Chính phủ đưa ra là đồng bộ, khả thi, nhưng lại thiếu khâu đột phá. Theo tôi, nên chọn khâu đột phá là hỗ trợ thị trường bởi khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp hiện nay là hàng tồn kho lớn, trong khi sức mua giảm, thị trường trong nước bị thu hẹp…
Hàng tồn kho đang ở mức báo động
Theo báo cáo mới đây của Tổng cục Thống kê, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến Việt Nam đang ở mức báo động. Cụ thể, tại thời điểm 1-4-2012, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến đã tăng 32,1% so với cùng thời điểm năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 101,5%; chế biến và bảo quản rau quả tăng 94,8%; sản xuất các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào tăng 90,8%; sản xuất phân bón và hợp chất ni -tơ tăng 63,4%; xay xát và sản xuất bột thô tăng 51,5%; sản xuất xi -măng tăng 44,2%; sản xuất mô tô xe máy tăng 38,9%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 35,6%; chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 35,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 31,6%...
 |
|
Do ứ đọng sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất cơ khí chế tạo gặp nhiều khó khăn. Trong ảnh: Sản xuất cơ khí tại Tổng công ty Động lực và máy nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Thanh Hương
|
Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội ngày 21-5-2012 cũng đã khẳng định: “Việc thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, chính sách tiền tệ chặt chẽ đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nhưng cũng để lại hệ quả là làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Lãi suất vay còn cao, nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận và hấp thụ vốn; chi phí đầu vào lớn, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho cao, dẫn đến quy mô sản xuất phải thu hẹp, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động hoặc phá sản, giải thể, lao động mất việc làm tăng, gây sức ép lớn đến ổn định xã hội và đời sống của nhân dân. Trong 4 tháng đầu năm 2012, cả nước có hơn 17, 7 nghìn doanh nghiệp đã làm các thủ tục giải thể và ngừng hoạt động, tăng khoảng 9,5% so với cùng kỳ”.
Nguyên nhân dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp khó khăn ngoài việc thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ, còn có nguyên nhân từ thị trường thế giới và trong nước. Bước vào năm 2012, kinh tế thế giới nói chung đang trên đà phục hồi nhưng còn có những diễn biến khó lường; thị trường tiêu thụ hàng hóa khó khăn. Trong nước, kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn, thị trường trong nước thu hẹp, nhiều lao động mất việc làm dẫn đến sức mua giảm mạnh.
Duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý
Căn cứ các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 mà các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội đã đề ra, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tiễn khó khăn của nền kinh tế trong những tháng gần đây, Chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là: Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững; từng bước thực hiện có kết quả chủ trương tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Đây vừa là giải pháp cấp bách trong năm 2012, vừa là yếu tố quan trọng để bảo đảm ổn định và phát triển bền vững trong trung và dài hạn.
Nghị quyết 13 của Chính phủ và Báo cáo của Chính phủ trình Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII (ngày 21-5-2012) đều cho rằng, việc duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng là góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Do vậy, Chính phủ đề nghị tiếp tục kiên định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Nghị quyết của Quốc hội đã đề ra cho năm 2012, nhưng cần điều hành linh hoạt, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, khắc phục tình trạng hàng hóa tồn kho tăng cao; quan tâm nhiều hơn đến phát triển thị trường trong nước; ưu tiên tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, sử dụng nhiều lao động.
Đó là nhận định đúng đắn và rất cần thiết lúc này. Vấn đề cần được giải quyết trước mắt là tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong và ngoài nước để giảm lượng hàng tồn kho, kích thích sản xuất phát triển, trong đó tăng cường mở rộng mạng lưới bán lẻ hàng nội địa tại các địa phương. Bên cạnh đó, cần cho phép các ngân hàng thương mại thực hiện mua bán nợ dưới dạng cho doanh nghiệp vay và nợ của các tổ chức tín dụng vay lẫn nhau.
Nhà nước nên hỗ trợ vào đâu?
Trong giai đoạn hiện nay, khi nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế, ngân sách Nhà nước nên hỗ trợ hợp lý thị trường. Cần ưu tiên hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ phù hợp đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, có lợi thế, có thị trường và có khả năng cạnh tranh; tăng cường kiểm định chất lượng hàng xuất khẩu… đồng thời có các giải pháp linh hoạt nhằm tranh thủ cơ hội tăng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng và thị trường đang có triển vọng phục hồi. Tập trung phát triển thị trường trong nước, nhất là hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, giảm hàng tồn kho, đổi mới hệ thống thu mua, tiêu thụ, đưa hàng hóa về nông thôn.
Nhà nước nên hỗ trợ các địa phương và doanh nghiệp phát triển thị trường, giới thiệu sản phẩm, hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, giảm tình trạng tồn đọng hàng hóa. Cùng với đó, có thể hỗ trợ để nâng cao năng lực quản trị của các doanh nghiệp theo hướng hiệu quả, cạnh tranh và minh bạch thông tin, nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước. Có chính sách, biện pháp tháo gỡ khó khăn về tiếp cận vốn và giảm lãi suất cho vay nhanh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nhưng phải bám sát tín hiệu thị trường và triển vọng nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Việc ban hành các loại phí cần có quá trình nghiên cứu, chuẩn bị thận trọng; thực hiện theo lộ trình, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, không làm tăng chi phí của doanh nghiệp.
Nhà nước cũng nên kích thích tiêu dùng bằng cách giảm hoặc miễn thuế giá trị gia tăng (VAT) cho doanh nghiệp. Khi được giảm thuế VAT, giá thành giảm, giá bán sẽ giảm, người tiêu dùng sẽ mua hàng nhiều hơn. Ngoài ra, để tăng sức mua, còn cần những giải pháp căn cơ hơn để hỗ trợ cho người tiêu dùng như giảm thuế thu nhập cá nhân, hạ lãi suất cũng như nới lỏng cho vay tiêu dùng ở các ngân hàng thương mại. Nhà nước cũng có thể mua lại các khoản nợ xấu của doanh nghiệp, làm lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp nhằm khơi thông dòng tín dụng từ hệ thống ngân hàng.
Về phía doanh nghiệp, để vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay, các doanh nghiệp cần phải tính toán lại các hạng mục đầu tư, nâng cao năng lực quản trị nguồn nhân lực và điều quan trọng để tiêu thụ sản phẩm tồn kho là phải biết chăm sóc khách hàng, thông tin và hỗ trợ cho cho người mua hàng có được những kinh nghiệm mua sắm tốt. Bên cạnh các chương trình khuyến mãi, các doanh nghiệp có thể phối hợp hoặc liên kết với các tổ chức tín dụng để triển khai các chương trình tín dụng tiêu dùng, bán hàng trả góp với lãi suất ưu đãi.
Ngoài ra, để tự cứu mình, các doanh nghiệp cũng phải tự xoay xở tiêu thụ sản phẩm tồn kho bằng các giải pháp tiếp thị và hạ giá bán. Nếu không giảm giá, doanh nghiệp khác trong ngành sẽ giảm giá bán và nguy cơ mất thị phần của các doanh nghiệp không biết năng động xoay trở là điều khó tránh khỏi.
Tiến sĩ Nguyễn Huyền Nga