QĐND - Xử lý chất thải đang là vấn đề bức xúc của các địa phương trong cả nước do sự gia tăng nhanh chóng về khối lượng và sự phức tạp về thành phần các loại chất thải. Đã có những nghị định, thông tư và lớn hơn cả là chiến lược quốc gia về “vấn nạn” trên, tuy nhiên với nhận thức trách nhiệm xã hội của một số chủ doanh nghiệp còn hạn chế, nguồn vốn đầu tư cho xử lý chất thải còn khó tiếp cận… 

Xã viên Hợp tác xã thủy nông Bình Lục (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) thu gom rác được "xả" bừa bãi xuống kênh S17

Từ những con số... biết nói

Ông Nguyễn Thế Đồng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho biết: Tính chung trên địa bàn cả nước, lượng nước thải các loại chưa được xử lý lên tới 1,5 tỷ mét khối, trong đó nước thải các khu đô thị và khu công nghiệp khoảng 1 tỷ mét khối. Mỗi ngày trên địa bàn  Hà Nội thải hơn 260.000m3 nước thải công nghiệp, còn ở phía Nam của con sông Đồng Nai phải tiếp nhận khoảng 1,5 triệu mét khối nước thải công nghiệp mỗi ngày.

Cũng theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, chỉ khoảng 30% cơ sở sản xuất công nghiệp (chủ yếu là các cơ sở có quy mô sản xuất vừa và lớn) có trạm xử lý nước thải. Điều đáng lo ngại là các cơ sở này vận hành chưa đạt tiêu chuẩn hoặc không vận hành thường xuyên. Nhưng, những ai quan tâm đến cuộc sống này còn “phát hoảng” khi biết rằng, tại Việt Nam, hiện có khoảng 90% doanh nghiệp trong tổng số gần 500 doanh nghiệp sản xuất giấy trong cả nước không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng không đạt yêu cầu.

Tại Việt Nam, chỉ tính riêng ở các đô thị, hằng ngày, chất thải rắn (CTR) được “sản sinh” ước tính 29.800 tấn; ở những miền quê yên ả là 30.500 tấn/ngày. Số lượng lớn là vậy nhưng công nghệ xử lý CTR ở nước ta hiện vẫn dùng “bài” chôn, lấp (80-85%). Vậy nhưng, chôn, lấp hợp vệ sinh lại chỉ đạt 15-20%. Ông Đặng Văn Lợi, Phó cục trưởng Cục Kiểm soát ô nhiễm (Tổng cục Môi trường) chia sẻ thêm: “Chúng ta còn đang phải đối mặt với ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp gây ra (chủ yếu là bụi, SO2, NO2, Co…) trong đó nồng độ bụi hầu hết đều vượt quá giới hạn cho phép. Đồng thời, một số nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng lại vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 đến 435 lần; công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, các nhà máy luyện kim vượt từ 5 đến 125 lần…”.

Đến việc đầu tư cho công nghệ môi trường

Thực tế tại Việt Nam, Chính sách phát triển công nghệ môi trường đã được Chính phủ phê duyệt từ năm 2009 với dấu mốc là năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025, với mục tiêu phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp có khả năng cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường. Theo đó, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân tham gia phát triển ngành công nghiệp môi trường với cách thức hỗ trợ qua tín dụng, ưu đãi thuế… Nhưng theo ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó vụ trưởng Vụ KHGDTN&MT (Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì việc ban hành chính sách pháp luật về đầu tư cho bảo vệ môi trường còn chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện, về cơ chế còn thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về môi trường. “Các mức thu, chi và chế độ ưu đãi, khuyến khích còn chung chung đã làm cho công tác quản lý về môi trường, nhất là các hoạt động đầu tư tài chính cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế, thiếu đồng bộ gây lúng túng, khó khăn cho các tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư”- ông Nguyễn Tuấn Anh nhấn mạnh.

Để giải bài toán hóc búa về môi trường, nhiều chuyên gia cho rằng, cần phải tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người dân; tăng cường thanh tra, kiểm tra; cưỡng chế, xử phạt các hành vi vi phạm về môi trường. Đồng thời tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; tăng cường đa dạng hóa đầu tư cho bảo vệ môi trường: Đầu tư là biện pháp quan trọng hàng đầu để bảo đảm cho việc thực hiện thành công chiến lược cũng như kế hoạch đề ra. Đầu tư bảo vệ môi trường phải được thực hiện theo phương châm xã hội hóa; các nguồn vốn đầu tư phải được đa dạng hóa về hình thức bao gồm đầu tư bằng trí lực, vật lực, ngày công lao động hữu ích, bằng nguồn vốn của chính phủ và nguồn viện trợ quốc tế.

Bài và ảnh: Lê Xuân Đức