QĐND - Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được tôn trọng và bảo đảm. Đây là sự thực đã được cộng đồng quốc tế biết đến và ghi nhận. Tuy nhiên, Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố hôm 30-7 lại đưa ra một số đánh giá không khách quan vì cách nhìn bị chi phối bởi định kiến chính trị, dựa trên những thông tin sai lệch hoặc từ sự khác biệt về quan điểm lịch sử, văn hóa đối với các sự kiện, vụ việc liên quan tới tôn giáo ở Việt Nam.  Đó là việc làm đáng tiếc, đi ngược lại xu thế phát triển của quan hệ Việt - Mỹ hiện nay. 

Cũng phải nói rằng, báo cáo mới này của Bộ Ngoại giao Mỹ đã có một số điều chỉnh trong cách tiếp cận cũng như trong các nhận xét liên quan đến tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Đáng tiếc là dù thừa nhận những thay đổi tích cực ở Việt Nam, báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn cho rằng, “quyền tự do tôn giáo bị giới hạn bằng nhiều cách” với việc "một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu, cầm tù…”.

Cần hiểu rằng, mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam, cũng giống như ở nhiều quốc gia khác, đều phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, nghĩa là phải theo đúng những quy định của luật pháp Việt Nam. Việc hành đạo, truyền đạo... trái với quy định của pháp luật hoặc hoạt động của các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp đương nhiên không được phép. Các hành vi vi phạm pháp luật của mọi công dân, dù theo đạo hay không theo đạo cũng đều phải bị xử lý đúng theo luật định. Đây là điều bình thường ở một quốc gia tôn trọng pháp quyền. Không thể dẫn ra một vài vụ, khi mà một số phần tử quá khích, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng để tập hợp và kích động tín đồ một tôn giáo thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, buộc các cơ quan chức năng phải can thiệp và xử lý để nói rằng chính quyền "sách nhiễu" hoặc "đối xử khắc nghiệt" với tín đồ tôn giáo. Điều đó cho thấy, những tác giả soạn ra bản báo cáo vẫn chưa vượt qua được những định kiến, cách nhìn sai lệch và thậm chí là cả những sức ép chính trị mà dư luận thường thấy trong các báo cáo trước đây khi công bố kết luận của mình.

Không thể nói rằng, ở Việt Nam không có tự do tôn giáo khi hơn 80% dân số có tín ngưỡng và quan trọng hơn, người dân được hoàn toàn tự do hành đạo theo đức tin của mình. Ngay cả báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2011 của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng vẫn phải thừa nhận rằng, ở Việt Nam có những buổi lễ tôn giáo được tổ chức rộng khắp, với quy mô toàn quốc, có sự tham dự của hàng trăm nghìn người. Nghịch lý là ở chỗ trong khi đưa ra những đánh giá như trên, Bộ Ngoại giao Mỹ lại vẫn nhận xét rằng: “Chính phủ Việt Nam đã không bộc lộ một cách rõ ràng là đang cải thiện hay đẩy lùi tình trạng tự do tôn giáo (?)”.

Có thể dẫn ra rất nhiều những bằng chứng, những con số thống kê cho thấy nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc đem lại quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng cho người dân. Cả nước hiện có khoảng 20 triệu người theo 12 tôn giáo khác nhau. Hàng chục nghìn cơ sở thờ tự các tôn giáo được nâng cấp, xây dựng mới trong những năm qua. Các cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo với đủ các cấp học như Học viện Phật giáo, Chủng viện Thiên chúa giáo, Viện Thánh kinh Thần của đạo Tin lành đã và đang hoạt động với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương. Nhiều chức sắc tôn giáo và nhà tu hành Việt Nam được cử đi đào tạo tại các nước như Mỹ, Pháp, I-ta-li-a, Ấn Độ... Hiện nay, tỷ lệ tăng giáo dân tương tự như tỷ lệ tăng dân số. Nhiều sự kiện tôn giáo quan trọng như Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) đã được tổ chức thành công tại Việt Nam trong những năm qua.

Tuy nhiên, để cho khách quan, hãy xem người nước ngoài quan tâm đến vấn đề tự do tôn giáo cảm nhận thế nào về những gì họ chứng kiến ở Việt Nam.

Ông A.Xau-va-giốt (A.Sauvageot), cựu Đại tá quân đội Mỹ, người có “thâm niên” hơn 20 năm đi về giữa Mỹ và Việt Nam, trong nhiều lần trả lời phỏng vấn báo giới phương Tây và Việt Nam đều khẳng định rằng, về tôn giáo, ông thấy Việt Nam tự do hơn Mỹ. Theo ông, trên lý thuyết, Hiến pháp của cả Mỹ và Việt Nam bảo đảm tự do tín ngưỡng. Tuy nhiên, trên thực tế một số chính trị gia của Mỹ lợi dụng vấn đề tôn giáo để lấy phiếu của các thành phần cực đoan. Hay Nghị sĩ Mỹ Ê. Pha-lê-ô-mê-ga (E. Faleomaveaga), người từng nhiều lần đến Việt Nam, trong một cuộc phỏng vấn mới đây đã nhấn mạnh rằng, trong các chuyến thăm đến Việt Nam, không có bất cứ nơi nào mà ông phải chứng kiến cảnh người ta bị cấm đoán vì lý do tín ngưỡng. Và điều mà ông cảm thấy ấn tượng nhất là ở ngay giữa thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đều có các nhà thờ rất lớn và Việt Nam có tới hơn 7,5 triệu người Việt Nam là công giáo.

Còn nữa, trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam hồi tháng 2, Thứ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Va-ti-căng E. Ba-lê-xtre-rô (E. Balestrero) đã ghi nhận việc Nhà nước Việt Nam tiếp tục nỗ lực thực hiện nhất quán và không ngừng hoàn thiện chính sách tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân. Và mới đây nhất, tại hội thảo quốc tế về tôn giáo Việt Nam diễn ra ở Việt Nam hồi tháng 6, ông A. Hê-ra-đô (A. Herrador), Cố vấn chính trị phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam đã đánh giá Việt Nam đã có những bước phát triển rất quan trọng trong bảo đảm tự do tôn giáo, tín ngưỡng thời gian qua. Đó là những minh chứng cụ thể  cho bức tranh tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo ở Việt Nam mà thiết nghĩ không cần phải tô thêm một sắc màu nào cả.

Việt Nam luôn hoan nghênh các nghị sĩ, các quan chức chính phủ Mỹ tới thăm Việt Nam để tăng cường sự hiểu biết, để có những cái nhìn trung thực nhất về bức tranh tôn giáo sinh động ở Việt Nam. Việc phản ánh một cách đúng đắn và khách quan tình hình Việt Nam, trong đó có vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng sẽ góp phần thúc đẩy mối quan hệ Việt - Mỹ phát triển lành mạnh, phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước.

Thu Trang