QĐND Online- Sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế 2008-2009, kinh tế thế giới tiếp tục rơi vào khủng hoảng nợ công kéo dài ở châu Âu và phục hồi chậm trên phạm vi toàn cầu. Trước tình trạng đó, các nước trên thế giới đã có xu hướng mở rộng hoạt động thương mại thông qua ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, thực hiện lộ trình cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phi thuế quan nhằm vực dậy nền kinh tế.

Trong những năm qua, với đường lối đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa trong lĩnh vực kinh tế-thương mại, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều đối tác trên thế giới. Theo ông Lê Xuân Dương, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu, Cục Xúc tiến thương mại, việc ký kết các FTA đã tạo cho Việt Nam những cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho nền kinh tế, nhưng nhìn trên tổng thể, thì những thuận lợi và cơ hội từ các FTA đem lại là lớn hơn nhiều so với khó khăn, thách thức.

Toàn cảnh hội thảo “Hiệp định thương mại tự do FTA: Tận dụng các ưu đãi và cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu”.

Tại hội thảo “Hiệp định thương mại tự do FTA: Tận dụng các ưu đãi và cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu”, tổ chức sáng 24-10 tại Hà Nội, ông Trần Bá Cường, Trưởng phòng WTO, Chuyên gia đàm phán, Vụ Chính sách Thương mại Đa biên, Bộ Công thương cho biết: “Hiện nay Việt Nam đã ký kết 7 FTA song phương và đa phương, hiện Việt Nam cũng đang trong thời kỳ đàm phán FTA với Chi-Lê”. Đây là những tín hiệu tốt cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Tại mỗi một quốc gia mà Việt Nam đã ký kết FTA song phương hoặc đa phương đều có những thuận lợi, cơ hội riêng cho doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu. Với FTA Việt Nam-Nhật Bản (FTA song phương duy nhất tính đến thời điểm này của Việt Nam), các doanh nghiệp có cơ hội tận dụng lợi ích của FTA để xuất khẩu các mặt hàng dệt may; thủy sản; giầy dép các loại; gỗ và sản phẩm gỗ; chè, hạt tiêu; bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc; hàng rau quả; sản phẩm mây, tre, cói và thảm; sản phẩm gốm, sứ; cà phê. Với FTA ASEAN- Australia - Ni Di-lân, các doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế xuất khẩu các mặt hàng như: Hoa (cành), cà phê, hạt điều, may mặc…Như vậy, có thể thấy rằng, các FTA mà Việt Nam tham gia đã và đang thúc đẩy xuất khẩu ở mức độ khác nhau.

Vấn đề đặt ra hiện nay là các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nắm bớt lấy cơ hội mà các FTA đem lại như thế nào để phát huy hơn nữa lợi ích xuất khẩu. Theo ông Lê Đăng Dương, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu, Cục Xúc tiến thương mại, muốn nâng cao hiệu quả của các FTA, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chủ động trong việc: tìm hiểu những cam kết thuế quan, quy tắc xuất xứ, các quy định về vệ sinh, kiểm dịch và các quy định kỹ thuật khác đang tác động đến hoạt động kinh doanh của mình, nghiên cứu thị trường, nâng cao chất lượng, giá trị và trách nhiệm đối với uy tín sản phẩm của mình. Từ phía các cơ quan quản lý, cần đặt ra mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của khu vực và toàn cầu.

Rõ ràng lợi ích của FTA không chỉ phụ thuộc vào vai trò định hướng của nhà nước, mà quan trọng hơn chính là sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp. Nắm bắt cơ hội và triệt để khai thác các cơ hội sẽ mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích lớn từ FTA.

Bài, ảnh: THU THỦY