QĐND - Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã có bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển, kinh tế của vùng vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, cần có những giải pháp tháo gỡ những vướng mắc nhằm giúp toàn vùng phát triển bền vững trong thời gian tới.
 |
|
Công nhân Công ty Cổ phần may Tây Đô (Cần Thơ) đang sản xuất áo xuất khẩu.
|
Năng lực cạnh tranh thấp, thiếu năng động
Năm 2007 nước ta gia nhập WTO, lúc này các doanh nghiệp ở khu vực ĐBSCL đã chủ động trong việc đầu tư sản xuất, phát huy lợi thế sẵn có, nắm bắt thời cơ thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Theo đó, thị trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực cũng được mở rộng sang nhiều nước, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân các địa phương, tăng vị thế pháp lý của Việt Nam trong thương mại quốc tế.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Đăng Doanh nhận định, khi gia nhập WTO, ĐBSCL có cơ hội lớn để phát triển bởi nơi đây có khả năng cung ứng khá lớn sản lượng lương thực, gạo, trái cây, thủy sản,… Thông qua việc xuất khẩu và cạnh tranh với thị trường thế giới, các doanh nghiệp sẽ nâng cao được năng lực, trưởng thành và phát triển. Tuy nhiên, vào thời gian này, nền kinh tế của khu vực cũng gặp nhiều trở ngại lớn, như kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, gia tăng các rào cản kỹ thuật, tranh chấp pháp lý…
Có thể nói, kết quả mang lại rất khả quan, tốc độ tăng trưởng bình quân tổng sản phẩm nội địa (GDP) của cả vùng giai đoạn 2006-2010 đạt 11,2%, cao hơn tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005. Thu hút các dự án FDI những năm gần đây tăng khá nhanh. Đến cuối năm 2011, toàn vùng có 612 dự án đầu tư còn hiệu lực, với vốn đầu tư đăng ký hơn 9,78 tỷ USD. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản tăng mạnh, nhập siêu giảm. Theo đó, thu nhập bình quân trên đầu người cũng tăng khá nhanh, từ 627,6 nghìn đồng/tháng vào năm 2006 lên đến 1.247,2 nghìn đồng/tháng vào năm 2010…
Tuy có bước phát triển nhưng việc thu hút dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) của vùng vẫn thấp, chỉ cao hơn Tây Nguyên và trung du miền núi phía Bắc. Vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng đầu tư vào vùng còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 13,6% tổng đầu tư của cả nước. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng rất thấp. Theo ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chi nhánh Cần Thơ, tuy các doanh nghiệp từng bước trưởng thành sau khi gia nhập WTO, nhưng năng lực cạnh tranh về các sản phẩm và dịch vụ nói chung cũng còn thấp, chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất, xuất khẩu chậm bởi các doanh nghiệp còn thiếu năng động và sáng tạo. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của vùng vẫn chưa tạo ra được giá trị chuyên sâu, trong khi khả năng tiếp cận công nghệ cao còn hạn chế.
Doanh nghiệp cần chủ động
Liên quan đến tình trạng trên, ông Nguyễn Minh Toại, Giám đốc Sở Công thương thành phố Cần Thơ, cho biết, Nhà nước cần phải giúp các doanh nghiệp khắc phục những khó khăn, trước mắt bằng cách hỗ trợ vốn, tạo điều kiện cho mở rộng phạm vi hoạt động, tìm thị trường và phối hợp với các tỉnh bạn tìm ra giải pháp phát triển lâu dài.
Theo TS Lê Đăng Doanh, để các doanh nghiệp ĐBSCL phát triển, hòa nhập nhanh khi nước ta đã gia nhập WTO, Nhà nước cần tiếp tục thực hiện các biện pháp bảo hộ thương mại bằng những biện pháp kỹ thuật sau biên giới, tránh rơi vào “bẫy tự do hóa thương mại”. Bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải chủ động chuẩn bị cho những bước hội nhập sâu hơn như Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam-EU.
Ngoài ra, ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cũng đề nghị, các doanh nghiệp phải thường xuyên trao đổi thông tin, lựa chọn đầu tư các dự án quan trọng và có liên quan đến các địa phương khác để các dự án này có thể phối hợp, bổ sung cho nhau thay vì cạnh tranh nhau. Đồng thời, vùng ĐBSCL phải cấu trúc lại cơ cấu kinh tế, kết hợp với việc lựa chọn mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện phát triển.
ĐBSCL là khu vực kinh tế quan trọng của cả nước, đã từng là chỗ dựa cho nền kinh tế cả nước lúc khó khăn. Tuy nhiên, từ sau khi gia nhập WTO đến nay, vùng vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là mức đầu tư vốn, nhân lực vào vùng vẫn rất thấp, tốc độ phát triển doanh nghiệp chậm, thiếu yếu tố sáng tạo, ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu…Vì vậy, thiết nghĩ, các địa phương phải chủ động liên kết để phát triển thế mạnh tổng thể của vùng trong thời gian tới.
Bài và ảnh: Văn Xây