QĐND - Lực lượng lao động trẻ, đông đảo, chăm chỉ với mức lương tương đối thấp là nguồn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Tuy đã tương đối thành công cho đến nay, nhưng thị trường lao động cũng như nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn những bất cập.

Buổi thảo luận trực tuyến thu hút sự quan tâm của nhiều độc giả tham luận trực tiếp. Ảnh: Vietnamnet

 

Trong buổi thảo luận trực tuyến giữa các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) với độc giả (ĐG) ngày 30-8, một số ý kiến đã được đặt ra xung quanh vấn đề này.

ĐG: Hiện nay, nhiều sinh viên Việt Nam có xu hướng ra nước ngoài du học. Các chuyên gia có đánh giá thế nào về tác động của xu hướng trên đối với thị trường lao động cũng như nguồn nhân lực Việt Nam?

WB: Du học là một cơ hội tốt để các bạn sinh viên Việt Nam được tiếp xúc với văn hóa, môi trường lao động của nước bạn. Đây được xem là một sự đầu tư hữu ích, sinh viên Việt Nam có thể học hỏi được những kỹ năng, kiến thức cần thiết cho nghề nghiệp, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp. Các bạn có thể tìm kiếm được cơ hội việc làm không chỉ ở thị trường lao động trong nước mà cả thị trường lao động quốc tế.

Tuy nhiên, không nhất thiết phải tham gia các khóa học đại học kéo dài 4 năm ở nước ngoài. Hiện nay, có rất nhiều những chương trình trao đổi ngắn hạn mà các bạn sinh viên Việt Nam có thể tham gia. Yêu cầu đòi hỏi đặt ra đầu tiên đó là khả năng ngoại ngữ, vốn được xem không phải là thế mạnh của nền giáo dục Việt Nam. Vì vậy, trước hết, các bạn sinh viên cần phải chú trọng đầu tư vào khả năng ngoại ngữ, sau đó mới tính đến chuyện tiếp cận sâu vào thị trường lao động nước ngoài.

ĐG: WB có nhận xét gì về hệ thống hỗ trợ thông tin dành cho người lao động hiện nay ở Việt Nam?

WB:  Hiện nay, mô hình hợp tác trao đổi thông tin giữa đơn vị sử dụng lao động và các trường đại học ở Việt Nam vẫn còn mang tính đơn lẻ, chưa được phổ biến. Vì vậy, người lao động, mà cụ thể là sinh viên không có được đầy đủ thông tin cụ thể về thị trường lao động. Chính vì vậy, nhà trường và doanh nghiệp cần phải phối hợp chặt chẽ với nhau. Các doanh nghiệp có thể tư vấn cho các cơ sở giáo dục về những tiêu chuẩn cần thiết mà mình đặt ra, từ đó các trường sẽ xác định, điều chỉnh cụ thể nội dung chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu thực tiễn sử dụng lao động. Các sinh viên cũng có thể chủ động tiếp cận các đơn vị sử dụng lao động, tìm hiểu nhu cầu cụ thể của họ, sau đó đưa ra đề xuất với nhà trường, giúp nhà trường bổ sung, hoàn thiện chương trình đạo tạo.

ĐG: Vai trò của các nhà trung gian trong thị trường lao động?

WB: Nắm bắt thông tin về thị trường lao động là một điều quan trọng như đã đề cập ở trên. Các nhà trung gian góp phần đem lại hiệu quả cho thị trường lao động. Chính vì hiện nay, mô hình hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp ở Việt Nam chưa nhiều nên sự ra đời của các văn phòng, trung tâm giới thiệu việc làm tư nhân là hữu ích. Tuy nhiên, đa số những nhà trung gian này lại chủ yếu cung cấp thông tin liên quan đến các công việc đòi hỏi trình độ cao, trong khi đó, thông tin về những việc làm cơ bản lại không nhiều. Chính phủ cũng có thể đóng vai trò trung gian trong thị trường lao động, tạo cầu nối giữa doanh nghiệp và người lao động. Vì vậy, cần phải phát huy hơn nữa vai trò của các nhà trung gian.

ĐG: WB có suy nghĩ thế nào về một thực trạng là ở Việt Nam, khi bàn về vấn đề nguồn nhân lực, đa phần lại chỉ tập trung vào lực lượng sinh viên nhưng lại ít quan tâm đến những người lao động ở nông thôn vốn chiếm đa số trong thị trường lao động hiện nay?

WB: Kỹ năng cần thiết đối với người lao động không chỉ có được từ giáo dục đại học mà nó là kết quả của cả một quá trình bắt đầu từ rất sớm, ngay từ cấp tiểu học, đơn cử như kỹ năng tư duy, phản biện. Vì vậy, giáo dục Việt Nam không nên chỉ chú trọng vào giáo dục tinh hoa mà phải hướng đến giáo dục đại chúng. Từ đó, tạo điều kiện cho tất cả người lao động ai cũng nắm bắt được cơ hội việc làm một cách dễ dàng.

Lâm Toàn (ghi chép)