QĐND - Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, đầu tháng 4-1975, Bộ tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công thị xã Xuân Lộc (tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh cũ), khu vực phòng thủ trọng yếu trong tuyến phòng thủ cơ bản (Biên Hòa-Xuân Lộc-Bà Rịa-Vũng Tàu), nhằm tiêu diệt địch phòng ngự ở phía đông Sài Gòn, cô lập địch, tạo thế thuận lợi để quân và dân ta mở Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ tiến công Xuân Lộc được giao cho Quân đoàn 4 (thiếu Sư đoàn 9), Sư đoàn bộ binh 6 (Quân khu 7) và một số đơn vị binh chủng, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương. Đây là chiến dịch diễn ra gay go, phức tạp, ta và địch giằng co rất quyết liệt ở từng mục tiêu, kéo dài suốt 12 ngày đêm (từ 9-4 đến 21-4-1975). Chiến dịch này thể hiện cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng, quyết liệt giữa ta và địch, trong đó với ta nổi lên là nghệ thuật chọn mục tiêu và cách đánh.
 |
|
Cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 4 phát triển tiến công Sở chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy tại núi Thị-Xuân Lộc, tháng 4-1975. (ảnh tư liệu)
|
Chọn mục tiêu tiến công, nhất là mục tiêu tiến công đầu tiên giữ vai trò hết sức quan trọng, thường được chọn đánh vào nơi địch yếu, khi giành thắng lợi sẽ tạo thuận lợi thúc đẩy thế tiến công chiến dịch phát triển. Trong những ngày đầu chiến dịch, bộ đội ta đồng loạt nổ súng tiến công vào các mục tiêu đã lựa chọn. Trên hướng chủ yếu, ta tiến công căn cứ Sư đoàn 18 của địch. Do bị địch ngăn chặn quyết liệt, ta phải chuyển hướng tiến đánh hậu cứ Chiến đoàn 52 địch. Trên hướng thứ yếu, ta nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu, gồm khu thông tin, cố vấn Mỹ, cảnh sát, bảo an… Khi ta đánh vào dinh tỉnh trưởng thì bị địch phản kích dữ dội. Sau 3 ngày chiến đấu, tuy ta đã chiếm được một số mục tiêu, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nhưng ta bị thương vong, tổn thất lớn.
Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định: Việc tập trung lực lượng lớn đánh cùng một lúc vào các mục tiêu ở trong thị xã là không phù hợp, do ta chưa dự tính được sự phát triển phức tạp của các tình huống, địch đã tăng cường lực lượng, chúng củng cố thế phòng thủ vững chắc ở các vị trí chiếm đóng; do đó, ta tiến công vào các mục tiêu đó không hiệu quả. Chỉ đến khi chuyển phần lớn lực lượng của ta ra vòng ngoài, Bộ tư lệnh chiến dịch đã quyết định chọn ngã ba Dầu Giây làm mục tiêu tiến công chủ yếu, bởi nếu ta chiếm được Dầu Giây sẽ cắt đứt Đường số 1, chia cắt giữa Biên Hòa và Xuân Lộc, đẩy địch vào thế bị cô lập. Thực tế diễn biến chiến đấu cho thấy, sau khi ta chiếm được Dầu Giây, đánh bại các cuộc phản kích của địch, cô lập Xuân Lộc, buộc địch phải rút chạy để tránh bị tiêu diệt. Đây là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật xác định mục tiêu tiến công, đánh vào chỗ hiểm, nhanh chóng phá vỡ thế trận phòng thủ của địch ở vòng ngoài, nhằm buộc địch phải đưa lực lượng đến ứng cứu, tạo thuận lợi cho ta tiêu diệt chúng ngoài công sự.
Điểm nổi bật trong chiến dịch tiến công Xuân Lộc là thay đổi cách đánh trong quá trình tác chiến. Lúc đầu, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định cách đánh là “lấy tiêu diệt địch bên ngoài là chính, tạo thế bao vây cô lập Xuân Lộc rồi dứt điểm sau”. Thế nhưng, trước tình hình địch hoang mang, dao động, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định thay đổi cách đánh, chuyển từ đánh địch ở phía ngoài vào đánh chúng ở trung tâm thị xã Xuân Lộc trước. Thực tế diễn biến chiến đấu trong 3 ngày đầu cho thấy, việc tập trung lực lượng đánh lớn cùng lúc vào trung tâm thị xã trước chưa phù hợp, ta tổ chức đánh nhiều lần nhưng không thành công do địch tăng cường lực lượng, cố tử thủ. Trước tình hình đó, xét thấy đánh Xuân Lộc khó dứt điểm; được sự đồng ý của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Miền, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định tạm ngừng tiến công địch trong thị xã, chỉ để lại một bộ phận nhỏ lực lượng giữ những khu vực đã chiếm và kiềm chế, nghi binh địch, còn đại bộ phận lực lượng chuyển ra tạo thế đánh địch ở vòng ngoài, dùng pháo binh tầm xa bắn phá, khống chế sân bay Biên Hòa không cho địch chi viện cho Xuân Lộc. Thực hiện chủ trương đó, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh ngừng tiến công thị xã, mỗi sư đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn kiềm chế, nghi binh địch, phần lớn các đơn vị rút ra phía ngoài củng cố lực lượng cơ động, khẩn trương tạo thế và lực mới để đánh địch.
Với việc thay đổi cách đánh đầy sáng tạo phù hợp với tình hình ta và địch, bộ đội ta đã nhanh chóng tiêu diệt Chiến đoàn 52, diệt gọn một tiểu đoàn pháo, một chi đoàn thiết giáp, giải phóng Chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Đường số 1 (đoạn Xuân Lộc-Bầu Cá), Đường 20 (đoạn Túc Trưng-ngã ba Dầu Giây). Tiếp đó, trong 2 ngày 17 và 18-4, ta đánh bại các đợt phản kích của địch, giữ vững ngã ba Dầu Giây. Trong khi đó ở thị xã, bộ đội ta tiến công đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn 43, 48 của Sư đoàn 18 và diệt một bộ phận quân dù địch. Trước nguy cơ bị tiêu diệt và hơn nữa bị mất Dầu Giây, Xuân Lộc bị cô lập, địch buộc phải rút lui để tránh bị tiêu diệt. Đêm 20 rạng ngày 21-4, địch ở Xuân Lộc rút chạy, ta truy kích, nhưng do phát hiện và tổ chức truy kích chậm, tổ chức chốt chặn không tốt, trời tối mưa to, nên ta chỉ diệt được một bộ phận sinh lực địch. Thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được giải phóng.
Thắng lợi chiến dịch tiến công Xuân Lộc năm 1975 có ý nghĩa chiến lược to lớn, đánh dấu bước phát triển về nghệ thuật chọn mục tiêu tiến công và thay đổi kịp thời cách đánh trong quá trình diễn ra chiến dịch. Từ việc chọn các mục tiêu tiến công từ trước với nhiều mục tiêu tiến công cùng lúc, song bị địch ngoan cố chống cự quyết liệt, nên chưa thành công, nên ta thay đổi cách đánh, chọn đúng mục tiêu tiến công chủ yếu mới thì sức chiến đấu mới đạt hiệu quả cao. Bằng sự thay đổi cách đánh đầy sáng tạo, ta đã nhanh chóng tiêu diệt địch từ Biên Hòa ra tăng viện, làm cho Xuân Lộc bị chia cắt với Sài Gòn, buộc địch phải rút khỏi thị xã, kết thúc chiến dịch.
Đại tá, TS Dương Đình Lập