QĐND -  Thực hiện quyết tâm chiến lược của Tổng Quân ủy, tháng 11-1953, Bộ Tổng tư lệnh quyết định sử dụng Đại đoàn bộ binh 316 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương mở Chiến dịch tiến công Lai Châu. Mục đích là nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng Lai Châu; cùng với các chiến trường Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào phân tán lực lượng cơ động chiến lược của địch, mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954.

Theo kế hoạch, ngày 10-12-1953, bộ đội ta tiến công địch ở đồn Pa Hạm, mở màn Chiến dịch Lai Châu. Đây là chiến dịch diễn ra hết sức khẩn trương, thể hiện cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng giữa ta và địch, trong đó với ta nổi lên bước phát triển mới về nghệ thuật chia cắt, chốt chặn chiến dịch. Trước hết là, ta kịp thời lập thế trận chia cắt địch ngay từ đầu chiến dịch, khiến chúng hoàn toàn lâm vào thế bị động, buộc phải rút quân. Chấp hành mệnh lệnh Bộ giao, khi Đại đoàn bộ binh 316 (thiếu) đang trên đường từ nam Hòa Bình tiến lên vùng Lai Châu, thì cuối tháng 11-1953, địch phát hiện hướng hành quân của ta. Lập tức, chúng huy động máy bay đánh phá dữ dội dọc tuyến đường, nhất là ngã ba Suối Rút. Đứng trước tình thế bị quân ta bao vây, chia cắt, ngày 6-12-1953, tướng Cô-nhi vội vã ra lệnh rút toàn bộ lực lượng ở Lai Châu về phòng ngự ở Điện Biên Phủ. Ngày 7-12-1953, các đơn vị Âu-Phi rút lui bằng đường không về Điện Biên Phủ, còn các đơn vị ngụy binh người Thái phân thành 5 bộ phận rút khỏi Lai Châu theo đường bộ. Địch bắt đầu thực hiện cuộc rút quân thì Đại đoàn bộ binh 316 phát hiện ngăn chặn kịp thời.

Bộ đội Đại đoàn 316 xây dựng trận địa, lập thế trận chốt chặn địch. Ảnh tư liệu

Trong Chiến dịch Lai Châu, ta tổ chức đánh địch phòng ngự từng cụm cứ điểm trong thị xã, chốt giữ các điểm cao, lập thế trận chia cắt, truy kích quân địch rút chạy quy mô chiến dịch. Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh, Đại đoàn bộ binh 316 đã chia cắt tuyến đường Lai Châu - Điện Biên Phủ, không cho địch rút chạy về co cụm ở Mường Thanh, đồng thời giải phóng hoàn toàn thị xã Lai Châu vào ngày 12-12-1953, nhanh chóng chuyển sang vận động, phát triển thế tiến công, truy kích địch.

Điểm nổi bật của chiến dịch là ta nhanh chóng xây dựng thế trận chốt chặn, truy kích tiêu diệt địch, giành thắng lợi. Trong khi Tiểu đoàn 439 tiến công giải phóng thị xã Lai Châu thì đại bộ phận lực lượng của Đại đoàn 316 đã hành quân đến đoạn đường từ Lai Châu đi Điện Biên Phủ, lập ngay các chốt chặn địch và bố trí lực lượng ở ba khu vực trọng điểm: Trung đoàn 174 ở Mường Muôn-Mường Pồn, đánh chặn địch từ Lai Châu rút chạy về Điện Biên Phủ. Trung đoàn 98 chốt ở Pu San, chặn địch từ Điện Biên Phủ đến ứng cứu Lai Châu. Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) tiếp tục bám đánh địch ở phía Him Lam-Bản Tấu. Việc hình thành các chốt chặn chiến dịch trên tuyến đường từ Lai Châu đi Điện Biên Phủ, nhất là đoạn Mường Pồn-Bản Tấu đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật hình thành thế trận chốt chặn, một hình thức tác chiến mà cả ba chiến dịch trước (Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào), bộ đội ta chưa có điều kiện thực hiện, đến Chiến dịch Lai Châu được phát huy hiệu quả.

Thắng lợi của Chiến dịch Lai Châu đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch, kịp thời chuyển từ hình thức tác chiến tiến công sang truy kích, lập thế trận chia cắt địch, dồn chúng lâm vào thế bị động buộc phải rút quân từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Đồng thời, ta nhanh chóng lập thế trận chốt chặn địch ở các khu vực địa thế hiểm yếu trên tuyến đường độc đạo, từ Lai Châu đến Điện Biên Phủ, thực hiện tiến công, truy kích, đón lõng, phục kích, chốt chặn, chia cắt địch ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ và ngăn chặn địch từ Điện Biên Phủ lên ứng cứu cho Lai Châu, tiến tới lần lượt tiêu diệt, làm tan rã từng bộ phận quân địch, giành thắng lợi. Thắng lợi của Chiến dịch Lai Châu bước đầu làm thất bại âm mưu co cụm lực lượng về phòng giữ Điện Biên Phủ của thực dân Pháp trên chiến trường Tây Bắc và mở đầu cho quân và dân ta bước vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, tiến tới đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đại tá, TS DƯƠNG ĐÌNH LẬP