QĐND - Chiến trường B2 là một nơi ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sự khốc liệt của chiến tranh, nơi cái sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc thì cũng là nơi xuất hiện những mối tình của những người chiến sĩ hết sức cảm động. Tình yêu đó ngày càng tỏa sáng, nó tiếp thêm nghị lực để họ vượt qua mọi mưa bom bão đạn, làm nên những chiến công. Thời gian ngày càng lùi xa, nhưng những ký ức đó luôn là niềm tự hào, trở thành động lực để họ vượt lên trong cuộc chiến chống đói nghèo hôm nay. Câu chuyện về Trung tá Phạm Văn Ợn, nguyên Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 46 Trinh sát Miền và bà Phạm Thị Thắm, nguyên là nữ trinh sát kỹ thuật Miền là câu chuyện như thế.

Vào khoảng tháng 7-1968, sau những ngày chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 46 và các nữ trinh sát kỹ thuật có dịp tụ họp về Bộ Tham mưu Miền (Trung ương Cục) báo cáo kết quả hoạt động chiến đấu và nhận nhiệm vụ mới. Ông Ợn kể: “Bấy giờ, cánh lính trinh sát đặc công gian khổ vất vả, người đen sạm, nhưng anh nào cũng hoạt bát, khỏe mạnh, nên được nhiều cô gái ở chiến trường để ý, trong đó có cô Phạm Thị Thắm, quê ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Thắm là người chịu thương, chịu khó, hằng ngày thường qua lại Tiểu đoàn 46 trao đổi nghiệp vụ và dành thời gian chăm sóc thương binh, bệnh binh”. Ông Ợn tâm sự: “Đi chiến đấu vượt suối, băng rừng gian khổ, nay về “Thủ đô kháng chiến”, anh em được tiếp xúc với các cô gái, nên ai cũng cảm thấy trong lòng như rộn lên một niềm vui khó tả”. Sự khốc liệt của chiến tranh, sự lãng mạn của người lính, làm cho tình cảm con người càng thêm gần gũi, thương yêu nhau. Tình cảm ấy đã làm nảy sinh tình yêu giữa người sĩ quan trinh sát và cô nữ trinh sát kỹ thuật lúc nào không hay. Bà Thắm kể thêm: “Bấy giờ ở chiến trường, nữ trinh sát kỹ thuật chúng tôi cũng rất thích lính Tiểu đoàn 46 vì các anh lập được nhiều chiến công lừng lẫy”.

Ông bà Phạm Văn Ợn.

Bà Thắm nhớ như in trận đánh ở núi Bà Rá (Phước Long) của Tiểu đoàn 46. Đồn núi Bà Rá cao hơn 730m. Lợi dụng địa hình hiểm trở, địch chọn nơi đây để đặt đài chỉ huy điều không và quan trắc pháo binh rất lợi hại. Trong đồn có hơn 40 lính trinh sát kỹ thuật, chúng được sự yểm trợ của các loại máy bay, pháo binh mạnh, sức cơ động cao, phản ứng rất linh hoạt. Thực hiện chỉ đạo của Bộ chỉ huy Miền, sau nhiều đêm trinh sát, ngày (21-5-1965), Tiểu đoàn 46 đột nhập, áp sát địch, điểm gần nhất chỉ cách khoảng 4m. Đúng lúc trời chập choạng tối, bọn địch đang hào hứng trong bữa cơm chiều thì các mũi tiến công của ta bất ngờ nổ súng. Bọn địch hoảng loạn, số thì bị ta tiêu diệt, số tháo chạy. Để tránh các loại phi pháo của địch, Bộ đội trinh sát đã mưu trí khống chế bắt ngay tên lính thông tin của địch, điện thoại đề nghị hỏa lực của chúng yểm trợ vào hướng Nam núi Bà Rá. Thế là các loại hỏa lực của địch đã bị quân ta đánh lạc hướng. Các chiến sĩ trinh sát bảo toàn lực lượng, rút quân an toàn. Ông Ợn cũng diệt tại chỗ 3 tên địch”. Ông Ợn tiếp lời:“Trận thắng đó, đơn vị không chỉ bảo toàn về người, trang bị, mà còn thu được nhiều vũ khí, tài liệu, kỹ thuật thông tin quan trọng của địch”.

Bà Thắm tâm sự:“Ngày ấy, anh Ợn là người nhanh nhẹn hoạt bát, hiền lành và hài hước. Bom đạn ác liệt thế, tiếp cận địch chỉ trong gang tấc, thế mà lúc nào cũng lạc quan. Anh chân thành và bản lĩnh lắm. Anh đã nhận việc gì là quyết làm cho xong. Tình yêu của chúng tôi cũng đến lúc nào không hay. Có đồng đội đã trêu chọc, anh là người đã vận dụng khéo léo chiến thuật “bí mật, đánh nhanh, thắng nhanh” trong tình yêu”. Bà Thắm cười! Đúng là người nữ trinh sát ngay từ những ngày mới quen nhau, bà đã nhận ra “chất” của người yêu mình, mà đến nay đã hơn 44 năm, phẩm chất ấy bây giờ vẫn còn nguyện vẹn.

Những ngày gặp nhau ở Bộ Tham mưu Miền qua nhanh, trở lại đơn vị chiến đấu trong muôn vàn tình huống cam go quyết liệt, nên những lần gặp nhau của họ cũng thưa dần. Do điều kiện chiến tranh, đặc thù nhiệm vụ, hai người cũng không có thư, điện thoại để thể hiện tình yêu. Thời gian dành cho tình yêu chỉ được thể hiện trong những lần gặp nhau, sau mỗi đợt hoạt động tạm lắng. Chiến tranh càng khốc liệt, nơi cái sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc thì tình yêu càng được nâng niu, đơm hoa kết trái, nó tiếp thêm nghị lực để họ vượt qua mọi mưa bom, bão đạn. Họ yêu nhau tha thiết, lại được đơn vị, đồng đội ủng hộ, nên nhanh chóng thành duyên. Quen nhau từ năm 1968, đến tháng 10-1970, tranh thủ thời gian ngắn ngủi giữa hai mùa chiến dịch, được cấp trên nhất trí, họ tổ chức đám cưới tại chiến trường. Bà Thắm nhớ lại: “Đám cưới cũng thật đơn giản, chỉ có ít bánh kẹo, thuốc lá để liên hoan. Bó hoa chúc mừng hạnh phúc hôm ấy cũng là những bông hoa rừng mà ông Ợn hái được từ khu rừng bị bom đạn cày xới còn sót lại. Còn tôi cũng chọn bộ quân phục mới nhất để mặc trong ngày cưới. Đám cưới diễn ra chỉ hơn một giờ đồng hồ. Sau phát biểu chúc mừng của chỉ huy đơn vị, hai đứa nghiêm trang đứng lên xin hứa: “Chúng tôi yêu nhau, giúp đỡ nhau, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ”. Bây giờ đám cưới chắc chả ai nói thế".

Bà Thắm kể: “Sau ngày cưới khoảng một tuần, ông Ợn được lệnh bí mật cơ động xuống đồng bằng khu 8, Sài Gòn. Ngày chia tay đi chiến đấu, hai đứa nén lòng, động viên nhau phấn đấu, với ước nguyện chiến tranh mau kết thúc. Đến cuối thu năm 1973, giữa chiến trường tôi trở dạ, nhờ có đồng chí, đồng đội, tôi đã “vượt cạn” an toàn. Lúc này ngoài nhiệm vụ chiến đấu, tôi còn phải nuôi con nữa. Đã hơn 40 năm trôi qua, tôi vẫn không sao quên những đêm sâu thăm thẳm, máy bay địch quần thảo đánh phá, từng loạt bom ầm ầm rung chuyển cả một vùng rộng lớn. Trong ánh chớp bom nhoáng nhoàng, tôi ôm chặt con trai Trần Minh Tuấn vào lòng. Tôi tự nhủ mình phải vượt qua tất cả. Sau này mới biết, những lúc gian nguy như thế, ông Ợn cũng đêm đêm áp sát tập kích sân bay dã chiến của địch ở Cà Tum, Đồng Ban (Tây Ninh). Sự dũng cảm, gan dạ, bằng lối đánh đặc công trong gần chục trận đánh, ông đã tiêu diệt 12 xe tăng, xe thiết giáp và nhiều tên địch. Đặc biệt trong đêm trung tuần tháng 9-1973, ông cùng đơn vị đột nhập sân bay địch dùng mìn diệt tại chỗ 15 tên biệt động quân. Ông Ợn nói: “Tôi cũng thương bà vất vả, nên tôi càng nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thành tích đó là nhiệm vụ của mỗi người chiến sĩ”. Với chiến công xuất sắc, ông vinh dự được 8 lần cấp trên tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt xe tăng”; “Dũng sĩ ưu tú”, 12 giấy khen ngay tại mặt trận và nhiều huân huy chương. Từ nỗ lực phấn đấu, nhập ngũ tháng 6-1961 đến tháng 3-1973, ông được bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 46. Còn bà, nhập ngũ năm 1965, sau 10 năm chiến đấu, bà cũng được tặng 9 giấy khen và nhiều huân, huy chương.

Chiến tranh kết thúc, bà là thương binh hạng 3/4, ông cũng là thương binh hạng 2/4. Cuối năm 1975, bà xuất ngũ. Còn ông công tác đến năm 1979 mới nghỉ hưu. Ông Ợn nói vui: “Không ngờ rằng, vùng “đất thép” nơi mình sinh ra, sau bao năm đi tuyến lửa, rồi lại về vùng “đất thép”. Khắc phục hậu quả chiến tranh, để chiến thắng đói nghèo, với hơn 24 năm là bí thư Chi bộ ấp Láng Cát, xã Tân Phú Trung (Củ Chi, TP Hồ Chí Minh), ông rất hiểu mảnh đất, lòng người nơi đây. Được sự động viên của bà, ông đã cùng bà con xây dựng vùng nông thôn quê ông ngày càng đổi mới, trở thành xã điểm trong Phong trào “Xây dựng nông thôn mới” của TP Hồ Chí Minh và cả nước, mức thu nhập bình quân đầu người hơn 26 triệu đồng/năm. Không những vậy, ông còn cùng thân nhân, gia đình liệt sĩ, tìm kiếm cất bốc được 15 bộ hài cốt liệt sĩ.

Ngày chúng tôi đến, bà vẫn pha trà, nấu cơm, may vá cho ông. Còn ông tuy 70 tuổi, nhưng vẫn trồng rau, nuôi cá. Bà Thắm nói vui với chúng tôi: “Ngày trẻ đi chiến đấu, ít có điều kiện chăm sóc nhau, bây giờ hòa bình, còn sức khỏe ngày nào, chúng tôi chăm sóc tốt cho nhau ngày ấy. Mặc dù có thể không bằng lúc trẻ, nhưng chúng tôi vẫn thích thế”.

Bài và ảnh: NGUYỄN DUY HIỂN