QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM: NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU,TRƯỞNG THÀNH VÀ CHIẾN THẮNG VẺ VANG
I-QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NHỮNG NGÀY ĐÂU THÀNH LẬP VÀ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC(1944-1954)
1.Lịch sử ra đời, nhiệm vụ và biên chế tổ chức, chỉ huy của Đội vũ trang Cao Bằng?
Đội vũ trang Cao Bằng, đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, giữ vững giao thông liên lạc, vũ trang tuyên truyền trong quần chúng, huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu trong tỉnh. Độ được thành lập vào tháng 10-1941 tại Pác Bó theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), gồm 12 người, 7 súng (3 súng lục,4 súng trường), do Lê Quảng Ba làm Đội trưởng,Hoàng Sâm-Đội phó, Lê Thiết Hùng-Chính trị viên.Từ cuối năm 1942, lực lượng của Đội được phân tán về các địa phương huấn luyện các đội tự vệ chiến đấu.Tới ngày 22-12-1944, một số cán bộ, đội viên Đội vũ trang Cao Bằng được lựa chọn vào Đội Viêt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, số còn lại nhận nhiệm vụ khác.
CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN 12-1944
1. Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hǎng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.
Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.
2. Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
3. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.
Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam.
Tháng 12 nǎm 1944
Hồ CHí MINH
In trong sách Vǎn kiện Đảng,
(từ 25-1-1939 đến 2-9-1945),
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963,
tr. 459-460.
| TÓM TẮT:QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM |
Bộ phận chủ yếu của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Ngày thành lập đồng thời là ngày truyền thống 22.12.1944 - ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân. Trước đó, đã hình thành một số đơn vị lực lượng vũ trang : các đội tự vệ công nông trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 31); quân du kích Nam Kỳ; đội du kích Bắc Sơn; các Đội Cứu quốc Quân. Trong thời kì trực tiếp chuẩn bị và tiến hành tổng khởi nghĩa, còn có các đội du kích chống Nhật của các chiến khu Hoà - Ninh - Thanh, Đông Triều, Thái - Hà - Tuyên, các đội Cảm tử Quân ở Bến Tre (sau 9.3.1945), các đội xung phong vũ trang ở Sa Đéc, Mỹ Tho, vv. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (1945), đã quyết định thống nhất Cứu quốc Quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân và một số tổ chức vũ trang khác thành Việt Nam Giải phóng quân (5.1945), là đội quân chủ lực đầu tiên để tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, Việt Nam Giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc Đoàn (11.1945). Đến ngày 22.5.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 7 quy định Vệ quốc đoàn trở thành Quân đội quốc gia nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ 1950, thành QĐNDVN.

Quân đội Nhân dân Việt Nam
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
QĐNDVN sinh ra và lớn lên trong chiến tranh cách mạng sôi nổi, rộng khắp và liên tục của nhân dân lao động, là đội quân công - nông mang bản chất của giai cấp công nhân, ngay từ đầu đã đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp tuyệt đối của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế thừa truyền thống quân sự Việt Nam, được nhân dân tin yêu, nuôi dưỡng và giúp đỡ, QĐNDVN trưởng thành vững chắc, liên tục đánh bại nhiều đội quân xâm lược lớn, mạnh, hiện đại. Kể từ khi thành lập cho đến nay, QĐNDVN đã có hàng nghìn đơn vị, cán bộ và chiến sĩ được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được Quốc hội tặng thưởng huân chương Sao vàng.
| TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ VIỆT NAM: |
Những di sản quý báu về phẩm chất quân sự được hình thành, phát triển qua thực tiễn lịch sử của nhiều thế hệ người Việt Nam, đặc biệt được kế thừa và phát triển lên một trình độ mới, với chất lượng mới trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo thành sức mạnh quân sự trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những biểu hiện tập trung của TTQSVN: 1) Truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lập tự cường, anh dũng bất khuất, quyết chiến quyết thắng. Trong quá trình đấu tranh chống ngoại xâm, với ý chí "đánh cho lịch sử biết rằng nước Nam anh hùng chi hữu chủ", "Nam quốc sơn hà nam đế cư" (non sông nước Nam, vua Nam ở), "thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu là nô lệ", "không có gì quý hơn độc lập tự do", nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục. Khi ngọn cờ đại nghĩa được phất cao thì cả dân tộc vùng lên quyết chiến quyết thắng. 2) Truyền thống quân sự nổi bật của dân tộc Việt Nam là truyền thống cả nước đồng lòng, chung sức đánh giặc. Từ lâu, trước hoạ ngoại xâm, nhân dân Việt Nam đã sớm có ý thức cố kết dân tộc để giữ nước, sớm biết gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình và bản thân, gắn bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn. Mỗi khi có giặc thì "cả nước chung sức đánh giặc", thực hiện "tân dân vi binh", "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", đánh giặc bằng mọi thứ công cụ, vũ khí có trong tay từ thô sơ như mác, rìu, dao, gậy tầm vông vót nhọn... đến những vũ khí tương đối hiện đại. Lực lượng tiến hành chiến tranh yêu nước không chỉ có quân đội mà dân chúng cả nước cùng tham gia. Trong xây dựng lực lượng với chính sách ngụ binh ư nông, đã biết tổ chức ra nhiều thứ quân (quân trung ương, quân địa phương), có lực lượng vũ trang và bán vũ trang.
|
3) TTQSVN còn thể hiện ở nền nghệ thuật quân sự độc đáo của một dân tộc nhỏ chống lại những đạo quân xâm lược lớn mạnh. Nét nổi bật về nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam là nghệ thuật toàn dân đánh giặc với nhiều hình thức linh hoạt nghệ thuật dùng mưu và dùng thế của một đội quân lấy ít địch nhiều, nhỏ thắng lớn; nghệ thuật thắng địch trong những cuộc đấu tranh lâu dài, đồng thời lại có nghệ thuật thắng địch trong những cuộc chiến tranh tương đối ngắn; luôn quán triệt tư tưởng quân sự truyền thống - tư tưởng tiến công, phát huy cao độ tinh thần anh dũng và trí thông minh, vận dụng nhiều cách đánh phù hợp, tạo thành thế trên cả nước đánh giặc, lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh; kết hợp đánh du kích với đánh tập trung; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn; kết hợp tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, chú trọng "tâm công" (binh vận) với tinh thần "lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo"; kết hợp đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị với đấu tranh ngoại giao... tạo nên sức mạnh tổng hợp để thắng địch. |
TTQSVN là một tài sản vô giá, là một nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh quân sự mang bản sắc Việt Nam, cần được kế thừa và phát huy trong điều kiện mới, góp phần bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân Việt Nam.