QĐND - Trong lịch sử hiện đại, chưa từng có một dân tộc nào, một quân đội nào tiến hành chiến tranh giải phóng trong 30 năm liên tục như dân tộc Việt Nam, như Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn thế, trong 30 năm đó, đối thủ của chúng ta trên chiến trường lại là những đội quân xâm lược nhà nghề, có trang bị hiện đại dựa trên một tiềm lực kinh tế-quân sự hùng mạnh. Nhưng cuối cùng chúng ta đã giành thắng lợi hoàn toàn. Nguyên nhân dẫn đến thắng lợi vĩ đại đó có thể phân tích ở nhiều cách tiếp cận, song dưới góc độ tham mưu, chỉ huy tác chiến, rõ ràng chiến thắng đó chỉ có thể cắt nghĩa rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Bộ Tổng tham mưu (BTTM) Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, nhất là trong lĩnh vực tham mưu chiến lược.

Nắm ta, nắm địch rõ ràng

Ngay sau ngày đất nước giành được độc lập, ngày 7-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gọi đồng chí Hoàng Văn Thái lên và yêu cầu thành lập Bộ Tổng tham mưu. Người dặn: “Bộ Tổng tham mưu là cơ quan quân sự cơ mật của đoàn thể (Đảng), là cơ quan quan trọng của quân đội, có nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện quân đội cho giỏi: Tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng”. Như vậy, cùng với nắm địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu BTTM phải “nắm ta rõ ràng”. Trong chiến tranh giải phóng, có thể nói nét đặc sắc đầu tiên trong tham mưu chiến lược của BTTM là luôn  nắm ta rõ ràng, mà vấn đề hàng đầu là nắm chắc, hiểu đúng, làm đúng ý đồ chiến lược của Đảng. Đây là nét đặc sắc nhất và cũng là bài học kinh nghiệm hàng đầu đối với một cơ quan tham mưu chiến lược của quân đội cách mạng.

Bộ Tổng tham mưu của Quân đội ta, nhất là những ngày mới thành lập hầu hết là những người chưa hề có kinh nghiệm gì về công tác tham mưu, chưa bao giờ được đào tạo gì về tham mưu, đặc biệt là tham mưu chiến lược. Điều này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiểu rõ và cho rằng: “Bây giờ chưa có kinh nghiệm, chưa hiểu biết về công tác tham mưu, có khó khăn đấy, nhưng phải cố gắng vừa làm vừa học, có quyết tâm làm thì khó mấy cũng làm được, thế nào ta cũng xây dựng được một ngành tham mưu vững mạnh, tài cán...”. Trong điều kiện đó, và cả sau này khi chúng ta có thêm kinh nghiệm từ thực tiễn, được bồi dưỡng, đào tạo thêm, sở dĩ chúng ta chiến thắng vì có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng.

 

Cùng với việc quán triệt và thực hành đúng đường lối của Đảng, BTTM còn nắm chắc tình hình chung của cuộc kháng chiến, tình hình nhân dân cả nước và từng địa phương, tình hình các đơn vị trong lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng. Nhờ nắm chắc ta, việc hoạch định và tham mưu cho Đảng hình thành ý đồ chiến lược, xác định mục đích và yêu cầu tác chiến chiến lược và cả những yêu cầu đối với các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược đã được xác định đúng.

Trong tác chiến nói chung, tác chiến chiến lược nói riêng, nắm địch, biết địch, hiểu địch có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng! Trong chiến tranh giải phóng, BTTM đã luôn nắm chắc địch, đặc biệt nắm chắc ý đồ chiến lược, chiến dịch và nhiều khi cả ý đồ thực hiện những chiến thuật mới của chúng. Việc tổ chức hoạt động nắm địch đã được đặt ra ngay từ ngày đầu thành lập BTTM. Ngay từ những ngày đó, chúng ta đã biết ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh của quân Pháp khi muốn đánh vào Hà Nội và toàn miền Bắc. Việc tham mưu, tổ chức chiến đấu giam chân địch ở miền Nam, ở Hà Nội và các thành phố, thị xã khác đã căn bản làm thất bại âm mưu này của chúng. Còn với Đông Xuân 1953-1954, ta đã nắm chắc ý đồ của Pháp trong kế hoạch Na-va là tập trung binh lực ở Đồng bằng Bắc Bộ, hòng chủ động phòng ngự và tạo thế tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta. Thực hiện chủ trương của Trung ương là phân tán binh lực của địch; thực hiện ý định mở các cuộc tiến công vào những nơi hiểm yếu, những nơi địch yếu mà ta có thế mạnh ở Tây Bắc, Thượng Lào, Trung và Hạ Lào, đồng thời căng lực lượng địch trên khắp các chiến trường, Bộ Tổng tham mưu đã xuất sắc trong tổ chức, chỉ huy tác chiến, phối hợp các chiến trường, cùng quân dân cả nước giành thắng lợi. Tiếp sau đó, xây dựng phương án và tổ chức chỉ đạo tác chiến giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phân tích và nắm chắc tình hình địch, đặc biệt là khả năng can thiệp trở lại của Mỹ là có hạn bằng những đòn trinh sát chiến lược, BTTM đã chủ động xây dựng phương án tác chiến chiến lược chính xác, làm cơ sở cho Bộ Chính trị hoàn chỉnh kế hoạch giải phóng miền Nam. Tiếp theo đó, đã tổ chức triển khai kế hoạch, huy động và chuẩn bị lực lượng vật chất; bổ sung lực lượng và huấn luyện bộ đội cho các chiến trường, thiết bị chiến trường, chọn hướng đột phá... Theo sát tình hình diễn biến trên chiến trường, tận dụng sai lầm chiến lược của địch là tháo chạy khỏi Tây Nguyên, BTTM đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch và tổ chức lực lượng, phát triển thế tiến công để đi đến toàn thắng. Đại thắng mùa Xuân 1975 là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cũng là đỉnh cao của tham mưu tác chiến chiến lược, trong đó có công tác nắm địch của BTTM.

Tổ chức chiến trường, phát triển lực lượng hợp lý

Trong cả hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, BTTM đã hoàn thành xuất sắc công tác tham mưu tổ chức chiến trường và chỉ đạo phối hợp tác chiến trên phạm vi cả nước. Chiến tranh giải phóng của chúng ta là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, cả nước đánh giặc, trong đó Lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, BTTM đã tổ chức và chỉ đạo các chiến trường trong phạm vi cả nước phối hợp tác chiến trên cả ba vùng chiến lược; phối hợp cả ba thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, tự vệ; trên phạm vi cả nước và ở miền Nam trong chống Mỹ, cứu nước còn chỉ đạo phối hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao.

Một nét đặc sắc của BTTM là đã chủ động tham mưu về tổ chức, xây dựng lực lượng và huấn luyện bộ đội. Chúng ta đã nhận thức rõ về vai trò của chiến tranh nhân dân, trong đó khẳng định vai trò của toàn dân đánh giặc, của dân quân du kích, bộ đội địa phương, nhưng cũng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của bộ đội chủ lực-những quả đấm có sức quyết định trong những trận đánh then chốt, những chiến dịch có ý nghĩa chiến lược, làm xoay chuyển tình thế chiến tranh.

Bộ Tổng tham mưu đã chủ động tham mưu và thực hiện việc phát triển mạnh lực lượng dân quân du kích đi đôi với tổng kết và nhân rộng cách đánh du kích. Đây chính là lực lượng với cách đánh nhỏ lẻ, phân tán, nhưng có hiệu suất cao, gắn bó trực tiếp với nhân dân và lực lượng quần chúng tại các địa phương, hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động đấu tranh chính trị tại địa bàn. Hoạt động của dân quân du kích đã góp phần tiêu hao, tiêu diệt địch; căng kéo địch và buộc chúng phải phân tán chủ lực cơ động ra giữ đất, giữ dân. Và nhờ đó, tạo địa bàn, tạo thế cho chủ lực của ta có thể rảnh tay đánh tập trung, đánh tiêu diệt lớn.

Đối với lực lượng chủ lực, từ những ngày đầu chống Pháp, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức và huy động bổ sung nhiều chi đội Nam tiến, bổ sung lực lượng cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến. Trên cơ sở bảo toàn lực lượng của Trung đoàn Thủ Đô sau khi hoàn thành nhiệm vụ chặn bước tiến của quân Pháp tại Hà Nội, chúng ta đã khẩn trương xây dựng các đơn vị chủ lực tập trung. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã có 6 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn công pháo. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, BTTM chủ động xây dựng kế hoạch đưa quân đội tiến lên chính quy, hiện đại. Việc hình thành trên thực tế các quân chủng Phòng không-Không quân, Hải quân, các binh chủng kỹ thuật chiến đấu và bảo đảm đã gia tăng sức mạnh tác chiến hiệp đồng của quân đội. Cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta lần lượt tổ chức 4 quân đoàn chủ lực cơ động. Việc xuất hiện các đại đoàn chủ lực cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, các quân đoàn cơ động chiến lược cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ không đơn giản chỉ là sự cộng lại của nhiều đơn vị, mà đó thật sự là một bước tiến vượt bậc về chỉ huy, tham mưu tác chiến, về công tác tổ chức và bảo đảm. Chính sự xuất hiện của các binh đoàn chiến lược này đã quyết định thắng lợi về quân sự trong thời điểm xuất hiện thời cơ chiến lược để kết thúc chiến tranh.

Một điểm đặc sắc nữa của BTTM là đối với một số chiến dịch quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lại do đích thân Tổng Tham mưu trưởng hoặc Phó tổng Tham mưu trưởng trực tiếp làm tư lệnh. Và cũng nhiều khi, các thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu được cử đi các chiến trường trực tiếp đôn đốc, chỉ đạo tác chiến tại chỗ. Trải qua hai cuộc kháng chiến, những cán bộ của BTTM thật sự là những người có tâm và có tài ở tầm chiến lược. Lịch sử sẽ mãi ghi nhận những đóng góp xuất sắc của các vị tướng như: Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn... và nhiều tướng lĩnh khác nữa. Tài năng, đức độ của các vị tướng đã góp phần tạo dựng nên diện mạo của BTTM trong chiến tranh giải phóng-một cơ quan tham mưu của quân đội và cũng là Bộ Tham mưu của cả một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, “một trong những BTTM xuất sắc nhất thế giới”(1).

-----------------------

(1) Trần Văn Quang, Thư gửi Ban Tổng kết BTTM. Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, NXB QĐND, H., 1997, tr.459.

Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO