Kỳ 2: Đợi con ngày về

QĐND - Điều đặc biệt trong chuyến vượt biển làm nhiệm vụ trinh sát, mở đường Hồ Chí Minh trên biển là trong số 6 đồng chí thực hiện nhiệm vụ tối quan trọng này có người con trai đầu của má - chiến sĩ Lê Hà. Đến bây giờ nhiều người vẫn đặt câu hỏi với má: “Dành cả gia tài rồi, sao má lại dành cả đứa con cho cách mạng?". Bởi ai cũng biết, những chuyến đi như vậy không ai hẹn ngày về, trong lúc người con út của má thì bị thiểu năng trí tuệ.

Lời chúc cho con

Thách thức đối với đơn vị lúc bấy giờ là lựa chọn những đồng chí tham gia vào đoàn công tác đặc biệt này. Yêu cầu đặt ra, đó phải là những đồng chí có đủ bản lĩnh, khả năng, kinh nghiệm đi biển, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh. Khi đồng chí Dương Quang Đông tham khảo ý kiến vợ chồng má, má nói:

- Tui có hai thằng con, thằng Hai (tức Lê Hà) đã có vợ con rồi. Nó đã trưởng thành, có bản lãnh, lại đã quen với nghề biển. Tui giao nó cho Đảng. Anh cứ cho nó đi. Việc nhà và vợ con nó đã có tui lo.

Người con trai của má lúc bấy giờ cũng tha thiết xin đơn vị được tham gia vào chuyến công tác. Vậy là đoàn công tác đặc biệt với tổ chức biên chế như một đơn vị cơ động gồm 6 người được thành lập, gồm: Nguyễn Sơn (Thuyền trưởng), Lê Hà (Chính trị viên), Thôi Văn Nam (thợ máy) và các chiến sĩ: Võ An Ninh, Nguyễn Văn Thanh, Trần Văn Phủ. Họ được đơn vị bí mật bồi dưỡng nghiệp vụ, học chính trị, học tiếng Hoa, chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt cho ngày lên đường.

- Sao má lại để cho con trai của mình tham gia chuyến đi đầy gian nan và nguy hiểm ấy? Má có sợ con trai đi sẽ không có ngày về? - Chúng tôi hỏi má câu mà không ít người đã hỏi.

Má nói:

- Lúc bấy giờ có ai nghĩ gì đến gian khổ, hy sinh, chỉ nghĩ làm sao để hoàn thành nhiệm vụ, đánh thắng giặc Mỹ thôi. Nhiệm vụ cách mạng lúc ấy sục sôi lắm. Ai ở vào hoàn cảnh của má cũng làm vậy thôi.

6 chiến sĩ trên chuyến tàu vượt biển ra Bắc tháng 2-1962 (Lê Hà đứng giữa, hàng sau). Ảnh: Lữ Ngàn.

Sau khi nhân sự, phương tiện đã sẵn sàng, vấn đề đặt ra là làm sao hợp thức hóa nhóm người này thành những người đi đánh cá. Một lần nữa má Mười Riều bằng mối quan hệ của mình ở địa phương đã liên hệ làm được 6 tấm căn cước giả, may cho mỗi người mấy bộ quần áo nâu và chuẩn bị lương thực, thực phẩm, xăng dầu... cho chuyến đi. Con tàu vượt biển làm nhiệm vụ trinh sát, mở đường này được đồng chí Dương Quang Đông đặt tên là tàu Thống Nhất. Thực ra cái tên ấy chỉ được mọi người ghi nhớ để tạo cho mình niềm tin, sức mạnh chứ nào có văn bản gì. Sự nghiệp thống nhất nước nhà là niềm mơ ước, mục tiêu lớn nhất của cách mạng và của mỗi đồng chí trên chuyến tàu.

Tháng 2-1962, con tàu Thống Nhất chở 6 đồng chí rời bến Lộc An ra khơi, hòa vào đoàn ghe, tàu đang tấp nập lướt sóng. Họ đi lặng lẽ, bình dị như những ngư dân ra khơi đánh cá. Tiễn con và đồng đội lên tàu, má Mười nói:

- Má chúc con luôn mạnh giỏi, lúc nào cũng đặt nhiệm vụ của Đảng lên trên hết. Việc ở nhà, con đừng lo. Má đủ sức lo được hết. Má đếm tuần trăng đợi ngày con trở về.

Chúng tôi có hỏi má, sao ngày ấy má lại có niềm tin sắt son rằng, con trai và những đồng chí trên chuyến tàu ấy sẽ trở về, thì má cười nói:

- Phải có niềm tin chớ con. Làm cách mạng mà không tin tưởng thì hổng làm được. Ngay cả bây giờ cũng vậy. Các con làm việc gì có ích thì trước hết phải có niềm tin.

Đồng chí Lê Hà, con trai của má, chiến sĩ Đoàn tàu không số năm xưa, bây giờ cũng đã ở tuổi “thất thập cổ lai hy”. Mặc dù vậy, ngồi bên má, đồng chí vẫn lễ phép, “bé bỏng” như thuở nào. Nghe chúng tôi hỏi má vậy, đồng chí cười nói:

- Tình cảm, niềm tin và sự động viên, tiếp sức của má ngày ấy như một thứ “bùa hộ mệnh” đối với tui, tiếp cho tui niềm tin và sức mạnh, dù chuyến đi ấy gian khổ, hiểm nguy không thể nào lường trước được.

Dù đã được chuẩn bị khá chu đáo nhưng khi ra giữa biển khơi, gặp mùa gió biển mạnh, nhiều đồ đạc và lương thực, thực phẩm mang theo bị sóng đánh văng xuống biển. Thế là hết cái ăn. Anh em lại sử dụng lưới bắt cá để làm đồ ăn. Lênh đênh mấy ngày trời, tàu ra đến vùng biển Khánh Hòa thì lại gặp bão. Mọi người quyết định ghé vào Cam Ranh trú bão và tìm nguồn lương thực, nước ngọt bổ sung cho chuyến đi. Chẳng ngờ khi tàu cập bến, các thành viên trong đoàn bị tụi lính thủy quân lục chiến bắt giữ. Đồng chí Lê Hà nhớ lại:

- Lúc vào gần bờ, gặp mấy ghe đánh cá của ngư dân, một thành viên trong đoàn đã hỏi, gần đây có đồn lính nào không? Câu hỏi ấy đã gây sự chú ý của bọn chỉ điểm trà trộn trong ngư dân. Nó lập tức báo về đồn lính. Tụi tui bị bắt ngay sau đó. Cũng may tụi lính thủy quân lục chiến này khá “ngu” nên bị tụi tui qua mặt. Trước sau gì tụi tui cũng chỉ khai, mình là ngư dân Bà Rịa đi đánh cá, tàu bị mất phương hướng nên lạc ra đây. Còn việc vì sao tụi tui lại hỏi có đồn lính nào gần đây, chẳng qua là vì nếu trú bão gần đồn lính thì sẽ được an toàn hơn. Các ông có phương tiện, nếu ngư dân tụi tui có mệnh hệ gì, còn có các ông cứu mạng. Tụi lính nghe vậy thì tạm thời tin nên nó chỉ kiểm tra qua loa, sau đó bàn giao tụi tui cho bọn cảnh sát. Bọn cảnh sát thì tụi nó chỉ thẩm tra căn cước và xác minh lý lịch thôi. Dù không tìm thấy chứng cứ gì, nhưng tụi nó cũng giam các thành viên trong đoàn đến gần một tháng rồi mới chịu thả.

Cái “ngu” của tụi lính này, theo đồng chí Lê Hà là việc mùa ấy gió biển thổi theo hướng đông - bắc. Nếu bị lạc thì tàu sẽ bị dạt về vịnh Thái Lan chứ không thể ngược gió mà ra đến Cam Ranh được. Một chi tiết mà nếu không phải là dân đi biển chuyên nghiệp, sẽ không nhận ra sự vô lý ấy. Nhưng cũng từ việc bị bắt ấy, anh em mới nắm được quy luật, mánh lới hoạt động của địch trên biển. Chúng thường tung thám báo, chỉ điểm trà trộn trong ngư dân để nắm tình hình. Các tình tiết, diễn biến này được anh em ghi nhớ như một kinh nghiệm xương máu để tìm ra biện pháp đối phó trong những chuyến tàu không số sau này.

Sau khi được thả, anh em tiếp tục cuộc hành trình trong thiếu thốn, khó khăn chồng chất. Cuộc hành trình kéo dài đến giữa tháng 5-1962 thì đến được Hải Phòng.

Làm cách mạng cốt ở cái tâm

Trong những ngày con tàu vượt biển ra Bắc, ở Lộc An, má Mười cùng các đồng chí trong đơn vị tất bật lo chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng đón những chuyến tàu không số cập bến.

Nhiệm vụ đặt ra là phải lo đủ số lượng lương thực dự trữ để cung cấp cho các chuyến tàu ra Bắc theo kế hoạch. Trách nhiệm lại đè nặng lên đôi vai má Mười. Một mặt, má đi vận động các cơ sở của cách mạng, bà con họ hàng thân thích tham gia đóng góp ủng hộ cách mạng. Ai có gạo góp gạo, ai có tiền góp tiền. Má gom hàng, tiền lại để mua lương thực. Mặt khác má cùng với hai người bạn thân, trong đó có chị ruột của nữ anh hùng Võ Thị Sáu, bí mật đi mua lương thực dự trữ. Sau một thời gian, má Mười đã gom được hơn 4 tấn gạo. Cả tiền mua tàu trước đó và góp vào mua lương thực cho bộ đội, má đã sử dụng hết trọn 10 cây vàng.

Đầu tháng 10-1963, những chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên từ Bắc vào Nam cập bến Lộc An. Má Mười mừng rơi nước mắt đón đứa con bình an trở về.

Sau những đóng góp và thành tích to lớn ấy của đồng chí Mười Riều, thủ trưởng Dương Quang Đông nói:

- Chị Mười à! Tui thấy tinh thần cách mạng của chị thật là cao cả. Tình hình bước đầu vậy là tạm ổn. Tui tính tới đây sẽ cử chị đi học nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ để có hướng phát triển, phục vụ cách mạng lâu dài.

Má Mười đáp:

- Làm cách mạng cốt ở cái tâm mà anh Năm. Sức tui đến đâu tui làm hết mình đến đó. Việc học hành phát triển để dành cho các đồng chí trẻ anh Năm à.

Thế là má Mười lại tiếp tục công việc của mình. Mỗi khi có tàu cập bến, má lại cùng anh chị em bốc dỡ, vận chuyển vũ khí vào điểm tập kết. Đặc biệt là những lúc ấy, thế nào má Mười cũng gom hàng, huy động bà con đóng góp chăm lo cho bữa ăn, sức khỏe của anh em để bù lại những ngày tổn hao sức lực trên biển. Anh em của các chuyến tàu không số coi má như là người mẹ, người chị của mình. Riêng người con trai cả của má - chiến sĩ tàu không số Lê Hà sau chuyến đi trinh sát mở đường ấy, đã tiếp tục cùng đồng đội thực hiện 12 chuyến vượt biển vận chuyển vũ khí trong nhiều năm liền. Năm 1972, trong một lần đưa tàu vào Nam, bị lộ nên anh em đã cho tàu chạy thẳng ra hướng vịnh Thái Lan để tránh truy đuổi nhưng không có kết quả. Trước lúc bị địch bắt, anh em đã cho phá hủy con tàu để xóa dấu vết. Con trai của má bị địch giam gần 11 tháng, sau Hiệp định Pa-ri năm 1973 mới được trả tự do.

Người con yêu dấu của má giờ đây vẫn hằng ngày gần gũi, ân cần bên má, dù hai má con tóc đã bạc như nhau. 6 chiến sĩ vượt biển ngày ấy, bây giờ chỉ còn 3, trong đó một người đang bị bệnh nặng. Những ngày này, đồng chí Lê Hà cùng đồng chí Nguyễn Sơn - Thuyền trưởng năm ấy, khá bận rộn với những cuộc hành trình, họp mặt, gặp gỡ, chuẩn bị cho kỷ niệm 50 năm Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Trên bàn thờ trong ngôi nhà má ở, bên cạnh di ảnh của các cụ thân sinh và người chồng quá cố là di ảnh của đồng chí Dương Quang Đông. Ở cái bàn kê cạnh bàn thờ là bức ảnh chân dung của má. Má bảo, má đã chuẩn bị sẵn ảnh thờ của mình rồi. Khi nằm xuống, chỉ cần đặt lên nóc tủ nữa là xong. “Ông bà đã cho má cuộc đời, chồng má đã cho má hạnh phúc, anh Năm đã cho má lý tưởng cách mạng. Đó là những người má phải thường xuyên nhang khói để ít nữa từ giã cõi trần, má sớm được đoàn tụ ở thế giới bên kia. Sống thọ được như vầy, má thanh thản lắm”.

Má nói rồi cười móm mém. Còn chúng tôi thì thấy lòng mình nghèn nghẹn.

Kỳ 1: 10 cây vàng và con tàu vượt biển

Kỳ 3: Cuộc hóa thân hoàn hảo

Ký của THANH KIM TÙNG