Máy bay Mig-35 của Nga.

Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm với những đặc trưng công nghệ mới sẽ trở thành trụ cột của không quân các cường quốc quân sự trong những thập niên tới của thế kỷ XXI. Cuộc đua phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm được bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ XX với mẫu máy bay chiến đấu đầu tiên F-22 Raptor của Mỹ được đưa ra thử nghiệm. Chỉ sau đó ít lâu, Nga cũng cho cất cánh chiếc máy bay hiện đại của hãng Su-khôi Su-47 Berkut. Từ đó, các chương trình chế tạo mới hay cải tiến, nâng cấp máy bay theo tiêu chuẩn công nghệ của máy bay thế hệ thứ năm liên tục được triển khai, gây được sự chú ý sâu sắc của không quân các nước.

Trên thực tế, máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm là sự chuyển tiếp từ thế hệ bốn và chưa có tiêu chuẩn phân biệt rõ rệt. Có nhiều loại máy bay phát triển mới hay cải tiến, nâng cấp như Su-30MKI, Su-35, Mig-30, Mig-31 (Nga), F-16, F-18, F-22 (Mỹ), Mirage-2000 (Pháp), JAS-39 Gripen (Thụy Điển)... được xem là những máy bay có nhiều đặc trưng công nghệ của thế hệ thứ năm, nhưng tính năng kỹ thuật, chiến thuật là của máy bay thế hệ thứ tư. Các nhà thiết kế, chế tạo vũ khí, khí tài hàng không gọi những kiểu loại máy bay tiên tiến, hiện đại kể trên là thế hệ máy bay chuyển tiếp thế hệ thứ 4+ và 4++ , thậm chí 4+++. Gần đây, các nước Nga, Mỹ và một số nước ở châu Âu đã công bố những chương trình nghiên cứu phát triển máy bay hiện đại, mang đầy đủ tính năng của máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Điển hình là chương trình phát triển hệ thống máy bay chiến đấu tiên tiến (JSF) với các mẫu máy bay F-35, F-35A của Mỹ. Nga đưa ra chương trình máy bay chiến đấu tiên tiến MFI với máy bay Mig-35 hay chương trình PAK-FA với các mẫu máy bay Su-37, Su-39, Su-41 và phiên bản mới Su-47 Berkut; các nước châu Âu có các mẫu máy bay Rafale, Rafale-M, Mirage-2000-5 (Pháp); Eurofighter (Liên doanh châu Âu)... Mỗi loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm đều có những ưu thế riêng về tính năng kỹ thuật, chiến thuật và hiệu suất chiến đấu, song chúng đều có chung những đặc trưng công nghệ nổi bật.

Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm rất đa năng, tính ổn định cao trong khi bay, kiểm soát tốt các góc độ tiến công và tiến công chính xác mục tiêu. Máy bay được thiết kế hoàn hảo, ứng dụng kỹ thuật điện tử hàng không tiên tiến vào kiểm soát quá trình bay, dẫn đường, điều khiển vũ khí và có khả năng đối phó điện tử tự động. Các hệ thống xử lý và trao đổi dữ liệu trên máy bay tiên tiến, bảo đảm cập nhật thông tin đồng thời từ trên không và mặt đất để phục vụ cho tác chiến. Các máy bay chiến đấu thế hệ 5 ứng dụng ra-đa mạng pha công suất lớn, đa chế độ, có khả năng phát hiện, bám đồng thời 24 mục tiêu và giao chiến với 8 mục tiêu cùng lúc. Nga sử dụng các ra-đa mạng pha quét điện tử Zhuk-PH cho máy bay Mig-35; ra-đa N011M cho máy bay Su-37. Mỹ lắp ra-đa mạng pha chủ động AN/APG-79 cho các máy bay của chương trình JSF, trong đó có F-35. Các ra-đa mạng pha có ưu điểm bảo mật tốt và độ chính xác hoạt động cao.

Mang được nhiều loại vũ khí và khả năng cơ động với vận tốc cao là đặc trưng điển hình của máy bay thế hệ thứ năm. Ngoài pháo, bom có điều khiển, còn có rất nhiều loại tên lửa trang bị cho máy bay như tên lửa không đối không, không đối đất ở nhiều tầm hoạt động khác nhau; nhiều loại máy bay còn trang bị tên lửa hành trình. Máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm có tính năng siêu cơ động do được lắp các động cơ tiên tiến, ứng dụng kỹ thuật lực đẩy véc-tơ dòng thẳng. Mỹ và các nước châu Âu đã chi hơn 20 tỷ USD cho chương trình máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm F-35, trong đó ngân sách cho nghiên cứu phát triển động cơ mới lên tới hơn 1 tỷ USD. Nga đã phát triển động cơ Saturn AL-37FU kiểu buồng đốt kiệt, luồng phụt chuyển hướng giúp máy bay có thể bay với tốc độ hành trình siêu âm. Các máy bay F-22 Raptor, F-35 và Su-37 lắp hệ thống điều khiển chuyển lực đẩy nên cho phép máy bay thực hiện các kiểu cơ động phức tạp với tốc độ siêu âm, cận âm.

Kỹ thuật tàng hình được chú ý ứng dụng cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm. Để bảo đảm khả năng cơ động, tính linh hoạt tác chiến, phần lớn máy bay hiện đại của Nga ứng dụng công nghệ plasma để cải tiến thiết bị điện tử, phủ lên các lớp vật liệu kim loại và polyme để ngăn cản sóng vô tuyến và nhiệt. Nhờ ứng dụng công nghệ mới, các hệ thống điện tử của máy bay làm việc ổn định trong mọi môi trường tác chiến, có khả năng lẩn tránh và bám địa hình. Viện ITAE (Nga) còn phát triển loại vật liệu RAM phủ lên bề mặt các đường ống dẫn khí, bề mặt phía trước của máy bay, nhờ đó giảm được diện tích phản xạ ra-đa. Không quân Mỹ cũng chú ý đến việc ứng dụng công nghệ tàng hình bằng vật liệu che phủ, bởi nếu tàng hình theo kết cấu sẽ rất khó khăn, không đáp ứng được yêu cầu chiến đấu của máy bay hiện đại.

Nguyễn Đức