Vượt biển ra Bắc bằng thuyền gỗ
Ấn tượng đầu tiên của tôi với ông Nguyễn Văn Đức là khi ông xuất hiện trong đêm giao lưu kỷ niệm 50 năm “Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển”, do Đài Phát thanh-Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) tổ chức cầu truyền hình trực tiếp với các nhân chứng lịch sử chiến sĩ tàu không số.
Nguyễn Văn Đức sinh ra ở Bến Tre, cái nôi cách mạng của lục tỉnh Nam Bộ kháng chiến lừng lẫy. Ba Nguyễn Văn Đức là Bí thư Huyện ủy Thạnh Phú sớm truyền sang ông tinh thần yêu nước. 13 tuổi đã tham gia làm giao liên mật cho cơ sở; 16 tuổi vào du kích; 17 tuổi trở thành chiến sĩ bộ đội địa phương tỉnh. Ngày 17-1-1960, Bến Tre đồng khởi, chàng thanh niên 20 tuổi Nguyễn Văn Đức đã cùng đơn vị tấn công đồn bốt địch, hỗ trợ quần chúng ào ạt nổi dậy giành chính quyền từ tay bọn phản động tay sai bán nước Ngô Đình Diệm. Cuộc đời cách mạng của Nguyễn Văn Đức bắt đầu từ những dấu ấn đẹp như thế, tuy nhiên khi MC Hồng Phượng hỏi ông: “Lý do nào ông trở thành chiến sĩ tàu không số?” mới làm người nghe ngưỡng mộ. Một chút lặng vì xúc động, rồi Nguyễn Văn Đức nói “Đó là điều bất ngờ”. Điều bất ngờ được ông nói giống như cơ duyên, như lịch sử sắp đặt vậy! Nguyễn Văn Đức kể, vào một ngày ông bất ngờ được cấp trên gọi lên giao nhiệm vụ: “Điều đồng chí về đơn vị tăng gia sản xuất cung cấp hậu cần cho các đơn vị trong quân khu”. Đơn vị đó chính là tổ đánh bắt cá biển. Nhưng mọi công tác chuẩn bị sau đó cấp trên yêu cầu phải vô cùng bí mật, bí mật tuyệt đối, chỉ một số đồng chí lãnh đạo ở tỉnh, ở quân khu và những người được tuyển chọn như ông Đức được biết mà thôi. Rồi họ bắt tay ngay vào công việc mua sắm thuyền, lưới cụ, gạo, thực phẩm, nước uống, đủ cho một chuyến đi biển khoảng hai mươi ngày. Họ âm thầm làm việc, âm thầm chuẩn bị, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Họ học cách bủa lưới, học cách ra khơi vượt sóng, thời gian chừng hơn hai tháng, cuối cùng Nguyễn Văn Đức và đồng đội cũng biết được sự thực nhiệm vụ của mình “vượt biển ra miền Bắc, xin vũ khí vào chi viện cho chiến trường miền Nam”. Tâm trạng Nguyễn Văn Đức thật khó tả, hồi hộp, vừa mừng, vừa lo. Rồi một bữa ông Đức và đồng đội được mời lên gặp đồng chí Mười Khước khu ủy viên. Mười Khước mỉm cười nhìn một lượt và giao nhiệm vụ chính thức: “Quân khu 8 giao nhiệm vụ cho các đồng chí tiếp bước đồng chí Nguyễn Thị Định, dùng thuyền vượt biển ra miền Bắc xin Trung ương vũ khí vào chi viện cho chiến trường đánh giặc giải phóng quê hương?!”. Sau bữa liên hoan nhẹ tiễn chân đầy lưu luyến, đêm 1-6-1961, tại Cồn Lợi, xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, con thuyền gỗ do ông Đặng Bá Tiên làm thuyền trưởng, cùng 5 người khác trong đó có Nguyễn Văn Đức lặng lẽ tiến ra Biển Đông.
 |
| Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp các chiến sĩ Tàu không số năm 2011. |
Hết ngày này sang ngày khác, nỗi lo phập phồng, phần về địch, phần bất ngờ bão tố ập tới con thuyền nhỏ nhoi khó trụ nổi, sang ngày thứ sáu, họ ước đoán đã ra tới biển miền Bắc. Đúng là như thế. Thuyền của ông Nguyễn Văn Đức đã cập được vào biển tỉnh Hà Tĩnh. Thật khó tả hết niềm vui của mọi người, riêng Nguyễn Văn Đức như là một giấc mơ, và sự thực còn hơn cả một giấc mơ! Sau đó ngoài Hà Nội đưa xe vào đón tất cả các thuyền viên về Thủ đô. Điều mong ước của ông Nguyễn Văn Đức đã trở thành hiện thực, đoàn thuyền Bến Tre của ông vinh dự được gặp Bác Hồ. Nguyễn Văn Đức nói, không ai trong số họ nghĩ vinh dự ấy lại nhanh đến thế! Làm sao một người như Bác, bận trăm công ngàn việc lại giành thời giờ tiếp họ? Mừng rất mừng, nhưng giờ lại lo. Lo vì không biết sẽ thưa với Bác những gì? Nhưng gặp Bác rồi mới thấy Bác giản dị và gần gũi quá. Bác hỏi sức khỏe mọi người, Bác hỏi tình hình ở miền Nam. Và cuối cùng Bác hỏi: “Các chú từ miền Nam ra, muốn Bác cho cái gì nào?”. Nguyễn Văn Đức trả lời: “Thưa Bác, chúng cháu muốn xin thật nhiều vũ khí để vào miền Nam đánh giặc, giải phóng quê hương ạ!”. Bác cười và nói: “Được rồi, việc đó Trung ương sẽ lo, các cháu ra đây cứ nghỉ ngơi lấy lại sức khỏe, học tập thật tốt, rồi sau đó sẽ trở về miền Nam”.
Thời gian sau, 5 con thuyền, cái trước, cái sau lần lượt trở về miền Nam, có thuyền đi thuận lợi, có thuyền trên đường đi gặp nhiều gian nan, trắc trở, gió to, sóng lớn, đói và khát, nhưng ý nghĩa lại cực kỳ quan trọng, giúp cho Trung ương đi đến một quyết định chiến lược đặc biệt tiếp theo.
Những chuyến đi sinh tử
Ngày 23-10-1961, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đoàn 759, có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí bằng tàu biển vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Ông Nguyễn Văn Đức nhớ lại, sau một thời gian nghỉ ngơi, học tập chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đa số những chiến sĩ vượt biển trên 5 con thuyền từ Nam ra Bắc trong đó có ông được điều về Đoàn 759. Họ được biên chế xuống các con tàu sắt “Phương Đông”, “không số” có trọng tải lớn từ 30 đến 70 tấn, lần đầu tiên chính thức chở vũ khí vào miền Nam. Nguyễn Văn Đức đi trên tàu “Phương Đông 4”, sau bảy ngày, đêm cập được vào bến Vàm Lũng, tỉnh Cà Mau an toàn.
Suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ tổng cộng Nguyễn Văn Đức đi được 23 chuyến. Ông bộc bạch chân thành trong 23 chuyến ấy không phải chuyến nào cũng thành công, cũng thuận buồm xuôi gió. Với ông mỗi chuyến đi là một ký ức cả vui lẫn buồn, mỗi lần tàu xuất phát là xác định “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh!”. Đúng thế. Nhiều lần cái sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc. Trong đó đáng nhớ nhất là chuyến tàu mang bí số 43, ra đi chi viện cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 vào chiến trường Khu 5! Đáng nhớ vì từ năm 1965, bí mật về con đường trên biển không còn nữa sau vụ Vũng Rô. Chuyến đi giờ đây là sự đối đầu trực tiếp giữa ta và địch, một mất, một còn.
Tàu 43 biên chế có 17 người cả cán bộ, chiến sĩ, đi từ K15, Đồ Sơn, Hải Phòng. Tàu xuất phát được một ngày, một đêm đến vùng biển phía Nam, trên bầu trời đã thấy máy bay trinh sát địch bám đuôi theo dõi. Mặc, tàu ta vẫn thẳng tiến. Hai ngày sau, khi đi ngang qua đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tàu 43 được lệnh rẽ vào biển Mỹ Á, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi để giao vũ khí. Nhưng khi tàu đi được chừng ba hải lý thì bị lộ, tàu chiến địch lớp trong, lớp ngoài bao vây dày đặc, trên không có máy bay trinh sát chỉ điểm, máy bay trực thăng, máy bay phản lực quần thảo gầm rú, mặt biển pháo sáng soi rõ như ban ngày. Chúng bắc loa kêu gọi đầu hàng, nhưng tàu 43 vẫn bình tĩnh tiến nhanh vào bờ. Chiêu bài tâm lý chiến đã không khuất phục được tàu 43. Địch bắt đầu siết chặt vòng vây và nổ súng tấn công từ bốn phía. Tàu 43, các chiến sĩ nổ súng đánh trả mở đường, trận đánh trở nên quyết liệt. Tàu địch áp mạn định bắt sống tàu 43, ta dùng ĐKZ bắn thẳng vào tàu địch làm chúng hoảng hốt giãn ra xa. Lợi dụng thời cơ tàu 43 đạp khối hỏa mù rơi xuống biển, khói bốc lên cuồn cuộn làm mất tầm quan sát của tàu địch, rồi cho tàu tăng tốc tiến nhanh vào bờ. Tuy nhiên, do tương quan lực lượng quá lớn giữa ta và địch, nhìn vào bờ chỉ còn gần 2 hải lý, nhưng Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng vẫn phải ra lệnh cho anh em rời tàu và thực hiện phương án cuối cùng điểm hỏa khối thuốc nổ TNT có trọng lượng hơn một tấn để phá hủy con tàu. Đêm đó người dân làng Phổ Thiện khi nghe tiếng súng nổ ầm ầm ngoài biển, cơ sở cách mạng biết là có tàu ta vào, nên phân công nhau tỏa ra các hướng tìm đón chiến sĩ ta. Trận ấy, tàu 43 đã hy sinh 3 đồng chí, 14 người còn lại đều bị thương.
Đoàn thủy thủ tàu 43 ở tại đây khoảng một tuần, sau đó được du kích địa phương bắt nối liên lạc vượt đường 1, lên Bệnh xá “Cậu Tư” trên căn cứ. “Cậu Tư” là tên mật của Bệnh xá huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, Bệnh xá trưởng là bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Ông Nguyễn Văn Đức nói, 14 cán bộ chiến sĩ tàu 43 đã ăn nghỉ điều trị tại đây chờ cho người cuối cùng bị thương nặng khỏi hẳn là đúng 35 ngày đêm...
Tôi còn nhớ năm 2011, nhân kỷ niệm 50 năm Đoàn tàu không số, cũng là 50 năm kỷ niệm năm con thuyền vượt biển ra Bắc từ các tỉnh Nam Bộ, Ban liên lạc CCB tàu không số do ông Nguyễn Văn Đức làm đoàn trưởng, tổ chức một chuyến về nguồn thăm lại miền Bắc thật đáng nhớ. Đoàn vinh dự được Bộ tư lệnh Hải quân; Bộ Quốc phòng và Chủ tịch nước tiếp. Tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết xúc động nói: “Bây giờ việc đi biển trở thành bình thường rồi, nhưng ngày đó các đồng chí dám đi trên một con thuyền nhỏ như chiếc lá, đi lại không có một phương tiện hàng hải nào bảo đảm, đi trong điều kiện thiếu thốn lương thực, thực phẩm, nước ngọt, sóng to, gió lớn và kẻ thù thường xuyên tuần tra, kiểm soát, cái chết đến bất cứ lúc nào mà vẫn cứ đi. Tôi cho rằng, hành động đó của các đồng chí đã là Anh hùng rồi!”. Có lẽ không còn lời lẽ nào nói thêm nữa, Nguyễn Văn Đức là một thành viên trong đội ngũ những người như vậy! Chính họ đã góp phần làm nên huyền thoại “Đường Hồ Chí Minh trên biển”.
Bài và ảnh: ĐỖ VIẾT NGHIỆM