Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân 

QĐND Online - Sau hàng chục năm quân ngũ, Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân là người có khoảng thời gian gắn bó khá lâu với các đơn vị pháo binh. Trong dòng hồi ức về những tháng năm tham gia chiến trận, Đoàn pháo binh S75 luôn đọng lại trong ông nhiều kỷ niệm khó quên… Gặp ông tại trụ sở Hội Cựu chiến binh thành phố Hà Nội (nơi ông đang công tác với cương vị Phó Chủ tịch Hội), chúng tôi đã được vị tướng - nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh - kể lại những tháng ngày từng đồng cam cộng khổ với những người lính được mệnh danh “chân đồng, vai sắt”...

Cuối năm 1964, sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan pháo binh, Đỗ Quốc Ân được cấp trên phân công ở lại trường giảng dạy. Ở lại hậu phương, trong khi thanh niên cả nước đang sục sôi lên đường vào Nam đánh Mỹ, giống như số đông thanh niên “sức dài vai rộng” hồi ấy, Đỗ Quốc Ân cảm thấy mình là người kém may mắn. Nhưng rồi sau ba năm công tác ở hậu phương (1964-1967), các thầy giáo trẻ đã toại nguyện khi được cử đi luân phiên vào chiến trường để có kinh nghiệm thực tế. Đỗ Quốc Ân có mặt trong số 10 giáo viên được biên chế vào đơn vị pháo binh xe kéo S75 (nay là Đoàn pháo binh S75, Binh chủng Pháo binh). Tháng 5-1968, sau 6 tháng thực tế, trong số giáo viên cùng đi có một đồng chí hy sinh, một người bị thương phải chuyển về hậu phương, còn lại 7 giáo viên nhận nhiệm vụ trở lại Trường Sĩ quan pháo binh giảng dạy, riêng Đỗ Quốc Ân được Trung đoàn trưởng Nguyễn Quốc Hùng trực tiếp báo cáo với Tư lệnh pháo binh Doãn Tuế, giữ lại tiếp tục làm nhiệm vụ.

Trải qua nhiều chiến dịch lớn, nhỏ ở chiến trường Trị Thiên-Huế, đầu  năm 1971, Đỗ Quốc Ân và đồng đội nhận nhiệm vụ cơ động vào Mặt trận Tây Nguyên. Tiếp tục chặng hành quân gian nan, ông và đồng đội đã phải hành quân qua nhiều địa bàn hiểm trở; dọc đường bị địch phát hiện, đánh phá.

Ông kể: “Có hôm, đơn vị tôi bị mất tới cả một đại đội xe pháo do địch đánh phá dọc đường. Có lần,  để an táng một pháo thủ tên Thao dưới một tán rừng bên bờ suối Đắk-Ka, Gia Lai, tôi và đồng đội đã phải dùng tay cào từng viên đá, nhẹ nhàng xúc từng xẻng đất để tránh phát ra tiếng động khi vẫn đang ở rất gần biệt kích, thám báo địch”.

Khi Đoàn S75 vừa đứng chân ở địa bàn Kon Tum thì mùa mưa ập đến, việc vận chuyển lương thực gặp nhiều khó khăn, đơn vị chưa có hậu cứ, mỗi người chỉ được cấp hai lạng gạo chia đều cho ba bữa ăn trong ngày. Khi ấy, giải quyết vấn đề lương thực để thoát khỏi cái đói trong mùa mưa trở thành một “thách thức” với anh em pháo binh cơ giới. “Tôi nhớ có đêm 6 anh em trong một căn hầm ẩm ướt đã từng phải bẻ nhỏ một củ sắn cho vào trong một chiếc ăng-gô, đun lên như một món súp rồi chia nhau ăn cho qua bữa. Thời điểm ấy, Đoàn S75 được anh em đơn vị bạn đùa vui đặt cho tên gọi là “Trung đoàn lâm nguy” bởi đơn vị chịu thiếu thốn đủ bề, nhiều anh em đã hy sinh vì thiếu đói, bệnh tật, thậm chí do cây đổ hoặc thú dữ tấn công...”, Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân nhớ lại.

Sau hơn 3 năm tác chiến qua nhiều chiến dịch trên địa bàn 3 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, cuối tháng 4-1975, Tiểu đoàn 2 do Tiểu đoàn trưởng Đỗ Quốc Ân chỉ huy nhận nhiệm vụ hành quân thần tốc vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong khi mục tiêu phía trước còn cách xa hàng chục cây số, ông cùng anh em tổ đài của Tiểu đoàn đã lấy những chiếc xe con mà địch vứt chỏng chơ trên đường tháo chạy để trinh sát. Tối 29-4, tại hàng rào sân bay Tân Sơn Nhất, đồng chí Võ Khắc Phụng, Sư đoàn phó Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn của ông chi viện cho bộ binh sư đoàn tiến đánh sân bay. Đêm 29-4, Tiểu đoàn trưởng Đỗ Quốc Ân đã trèo lên lầu 3 của một cửa hàng ăn có ghi chữ “Phở tàu bay” để làm nhiệm vụ trinh sát. Đúng 5 giờ sáng ngày 30-4, Tiểu đoàn nổ súng yểm trợ cho bộ binh tiến vào sân bay Tân Sơn Nhất, sau đó chuyển làn sang mục tiêu Bộ Tổng tham mưu nguỵ. Khoảng 9 giờ ngày hôm ấy, bộ binh ta đã vào chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Đỗ Quốc Ân cũng cho anh em pháo binh tiến vào phía trong. Khi ấy, thấy các khẩu pháo của quân ta đang được đặt tại đây, ông và đồng đội đã kinh ngạc nhìn nhau bởi không hiểu đơn vị pháo binh nào của ta đã kịp tiến vào? Về sau, được biết đó là những khẩu pháo do địch chiếm được của Quân giải phóng ở các chiến dịch, chúng đem trưng bày tại đây để khoe khoang như những “chiến lợi phẩm”.

Sáng 30-4, Tiểu đoàn trưởng Ân nhận điện của Chỉ huy đơn vị phải chuẩn bị cho ba mục tiêu tiếp theo là: Dinh Độc lập, Đại sứ quán Mỹ và Cảng Sài Gòn. Đỗ Quốc Ân và tổ đài lại tiếp tục lên đường, nhưng công việc trinh sát để chuẩn bị cho các mục tiêu còn lại của ông và đồng đội đã... không thành, bởi bước chân thần tốc của các đơn vị đã rầm rập tiến về. “Mục tiêu “không thành” và những khẩu pháo Đ74 của Tiểu đoàn đã không phải nhả đạn, đó là điều mong mỏi không chỉ của cánh lính pháo binh chúng tôi trong thời khắc ấy...”, sau 36 năm, vị tướng trận mạc đã chân thành bộc bạch như vậy.

Theo lời kể của Thiếu tướng Đỗ Quốc Ân: Trên đoạn đường từ sân bay Tân Sơn Nhất tới dinh Độc lập, xe chở ông và tổ đài trinh sát cứ chầm chậm tiến cùng xe tăng của các đơn vị Quân giải phóng. Rất đông bà con đứng hai bên đường hô khẩu hiệu, họ mừng vui, hò reo và nhiều người bật khóc vì giờ phút chiến thắng đã tới. Ông nhớ mãi hình ảnh một bà má tay vẫy cờ giải phóng, vừa khóc vừa hô to: “Việt Nam đã hoàn toàn độc lập thống nhất rồi”, “Việt Nam đã thoát khỏi hơn 100 năm bị xâm lược rồi”...  Sau những năm tháng gian khổ ở núi rừng Tây Nguyên, nay được có mặt giữa Sài Gòn và tận mắt chứng kiến những con người chí cốt với cách mạng đang đứng hai bên đường phố, đang chia cho mình và đồng đội những nắm cơm, những túi trái cây, những khúc mía được cắt nhỏ..., nước mắt ông cứ lăn dài trên má. Tới dinh Độc lập, một trong ba mục tiêu trinh sát “không thành” của Tiểu đoàn, Đỗ Quốc Ân bước vào sảnh và thấy rất đông quan chức trong nội các chính quyền Sài Gòn đang đứng ở vườn hoa, còn Dương Văn Minh đã được đưa ra Đài Phát thanh để tuyên bố đầu hàng, ông chợt nghe rộ lên những tràng súng nổ, thì ra, anh em Quân giải phóng đang chĩa những khẩu 14,5mm và 12,7mm lên trời để ăn mừng chiến thắng...

Bài và ảnh: Bùi Minh Tuệ