QĐND - Sau những thắng lợi của những chiến dịch và các đợt hoạt động quân sự trong những năm 1970-1971, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Trị-Thiên nhằm tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân sự của địch, phối hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn lực lượng bảo an dân vệ, đánh bại kế hoạch “bình định” của địch, giải phóng phần lớn địa bàn Trị - Thiên, có điều kiện giải phóng toàn bộ hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, phân tán thu hút lực lượng địch, phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam giành thắng lợi cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

Chiến dịch Trị-Thiên 1972 mở màn ngày 30-3-1972 và kết thúc ngày 27-6-1972. Trong quá trình chiến dịch, ta tổ chức nhiều đợt tiến công giải phóng, làm chủ nhiều mục tiêu và phòng ngự đánh trả các đợt tiến công, phản công của địch. Phương châm tác chiến của chiến dịch là đánh tiêu diệt địch ở dã ngoại, đánh điểm, đánh những trận đánh quyết định, tiêu diệt từng trung đoàn, lữ đoàn địch, phá vỡ tuyến phòng ngự, nhanh chóng phát triển vào tung thâm, không cho địch điều động lực lượng đối phó và co cụm. Phát huy cao độ uy lực của các loại binh khí, kỹ thuật hiện có, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, coi trọng đánh nhỏ, sâu hiểm trong lòng địch bằng lực lượng tinh nhuệ. Hiệp đồng chặt chẽ các hướng, kết hợp giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng và binh vận.

Chiến sĩ Sư đoàn 304 cắm cờ trên căn cứ Động Toàn. Ảnh tư liệu.

Mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và chọn hướng tiến công chiến lược chủ yếu là Trị-Thiên là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương nhằm làm chuyển biến cục diện của cuộc chiến tranh. Đây là hướng địch bố trí những đơn vị thiện chiến, tổ chức hệ thống phòng ngự hoàn chỉnh, vững chắc thành ba tuyến. Tuyến ngoài cùng, phạm vi từ vùng giáp ranh giữa ta và địch đến biên giới Việt - Lào. Tuyến phòng thủ cơ bản, bố trí ở các điểm cao 367, 52, 365, 548, 597, 241, 115, 69, động Ông Gio và các căn cứ Dốc Miếu, Quán Ngang, Cửa Việt. Tuyến phòng ngự dự bị phía sau gồm các thị xã, thị trấn, hậu cứ Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị, Huế và khu vực phía đông đường số 1. Nhưng địch cũng có điểm yếu cơ bản là phòng ngự trong thế bị động, bên ngoài mạnh nhưng bên trong sơ hở, tinh thần chiến đấu của binh lính kém.

Trong Chiến dịch Trị - Thiên, ta đã vận dụng và giải quyết thành công một loạt các vấn đề về nghệ thuật chiến dịch, nhất là nghệ thuật tạo ưu thế chiến dịch và duy trì ưu thế trong quá trình chiến dịch cho đến khi giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Ta đã chọn đúng hướng, khu vực và mục tiêu tiến công chủ yếu. Lúc đầu ta có ý định chọn hướng tây-nam (động Ông Gio, điểm cao 365, La Vang), hướng này địch yếu và tương đối sơ hở, nhưng ta chưa chuẩn bị được hệ thống đường sá để triển khai lực lượng, cơ động binh khí kỹ thuật, cũng như vận chuyển tiếp tế hậu cần. Từ thực tế đó, ta quyết định chọn hướng tây và hướng tây-bắc làm hướng tiến công chủ yếu, hướng này tuy địch tương đối mạnh, có công sự kiên cố, nhưng vẫn có sơ hở, ta đã chuẩn bị được hệ thống đường chiến lược, chiến dịch để triển khai lực lượng lớn, nhất là binh khí kỹ thuật và có điều kiện bảo đảm vật chất cho tác chiến chiến dịch. Hướng nam là hướng chia cắt chiến dịch, cắt nguồn tiếp tế vận chuyển của địch. Trên hướng tiến công chủ yếu, ta xác định các mục tiêu chủ yếu: Điểm cao 544, Động Toàn, điểm cao 241. Thực tế diễn biến chiến dịch, trong 5 ngày từ 30-3 đến 5-4 (theo dự kiến là 7 ngày), đột phá liên tục kết hợp với thọc sâu, vu hồi, ta đã phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch, diệt một bộ phân sinh lực địch gồm ban chỉ huy và cơ quan Trung đoàn 54, Sư đoàn bộ binh 3, giải phóng hai huyện Gio Linh và Cam Lộ, buộc địch phải bỏ tuyến phòng ngự Đường số 9.

Trong Chiến dịch tiến công Trị-Thiên, ta đã vận dụng các hình thức tác chiến chiến dịch tiến công đúng đắn, sáng tạo. Căn cứ vào địa hình, tình hình địch, thực lực của ta và từ mục đích chiến dịch, ta đã kết hợp đột phá thọc sâu với bao vây, chia cắt, đánh địch trên toàn bộ chiều sâu phòng ngự chiến dịch của địch; kết hợp tiêu diệt địch với phá vỡ thế phòng ngự của chúng; kết hợp đột phá mạnh với thọc sâu vu hồi, bao vây chia cắt chiến dịch; kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng trên những địa bàn đông dân cư. Để phá thế phòng ngự của địch, tạo thế đánh trận then chốt, Bộ tư lệnh chiến dịch đã tổ chức tiến công trên 4 hướng (đột phá mạnh từ hướng tây và hướng bắc kết hợp với bao vây và thọc sâu từ phía đông, cắt tiếp tế vận chuyển và chia cắt chiến dịch từ phía nam), phát huy sức mạnh của binh chủng hợp thành tiến công phá vỡ tuyến phòng ngự ở vòng ngoài và hệ thống pháo binh của địch, đánh bại quân cơ động ứng cứu, mở cửa tiến công vào Đông Hà, Ái Tử.

Trong chiến dịch tiến công Trị-Thiên, thành công của nghệ thuật quân sự còn thể hiện ở sự chỉ đạo chiến thuật chặt chẽ và linh hoạt, nhằm đánh bại các biện pháp tác chiến phòng ngự chủ yếu của địch. Ta đã vận dụng thành công chiến thuật tiến công địch phòng ngự trong công sự vững chắc ở quy mô sư đoàn được tăng cường binh khí kỹ thuật với trình độ hiệp đồng binh chủng cao, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật như: Tập kích hỏa lực mạnh đáp ứng yêu cầu bao vây tiến công tiêu diệt địch trong thời gian ngắn; tiến công bằng hiệp đồng binh chủng, đột phá liên tục, đánh đến đâu bám trụ đến đó, kết hợp với thọc sâu, chia cắt, nhằm tiêu diệt quân địch co cụm lớn, có xe tăng-thiết giáp làm nòng cốt; thọc sâu, tiến công nhanh trong hành tiến, nhanh chóng đánh thẳng vào tung thâm tập đoàn phòng ngự của địch.

Những đặc sắc của nghệ thuật quân sự trong chiến dịch tiến công Trị-Thiên có giá trị sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu, phát triển làm phong phú thêm kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần đánh bại mọi cuộc chiến tranh mà các thế lực thù địch sử dụng vũ khí công nghệ cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Đại tá Đào Văn Đệ