QĐND - Có một trạm nữ quân bưu được thành lập nơi điểm thắt cổ chai trên tuyến đường Trường Sơn lịch sử. Trong suốt 8 năm hoạt động và chiến đấu (1967 - 1975), những nữ quân bưu chân đồng vai sắt, ngày đêm miệt mài băng rừng, lội suối vận chuyển công văn, tài liệu, đưa đón bộ đội, thương binh qua từng cung đường lửa. Với những chiến công thầm lặng, lịch sử đã trao tặng cho họ cái tên danh dự "Trạm 9 cô" và khắc ghi công lao của họ như một huyền thoại về "9 đóa hồng bất tử".
Kỳ 1: Sống lại một thời hoa lửa
Sinh ra và lớn lên trên quê hương miền Tây Quảng Ngãi nên đã nhiều lần tôi được nghe những người cao tuổi kể về "Trạm 9 cô". Thế nhưng, những câu chuyện ấy chỉ là sự lắp ghép các sự kiện đơn lẻ. Tò mò, tôi quyết định cùng đồng nghiệp "ngược dòng lịch sử", tìm gặp những người trong cuộc để biết được tường tận hơn "Trạm 9 cô" huyền thoại này.
Lịch sử đặt tên "Trạm 9 cô"
Chúng tôi tìm đến nhà cô Lê Thị Bích Ngà - nguyên Trạm trưởng “Trạm 9 cô” khi đêm đã giăng kín thành phố Quảng Ngãi. Căn nhà cấp 4, số 708, nhỏ nhoi lọt thỏm giữa các ngôi nhà khác trên phố Hai Bà Trưng đến độ khó tìm. Sau gần một giờ đồng hồ vòng vèo tìm kiếm, chúng tôi mới nhác thấy bóng cô Ngà gầy guộc đứng trước cổng nhà đợi khách tự lúc nào.
Cô Ngà sinh năm 1947, nhưng tôi cứ ngỡ năm nay cô phải ngoài 80 tuổi, cái lưng khòng khòng lệch hẳn về phía bên trái; đôi chân yếu ớt, run run nhấc từng bước một chậm chạp. Thế mà khi nghe tôi muốn biết về thời "trạm trưởng", mắt cô sáng lên, gương mặt tươi rói, giọng cô sang sảng. Rồi bao nhiêu sự kiện, bao nhiêu kỷ niệm của một thời hoa lửa cứ ùa về trong tâm trí cô. Cô kể:
- Năm 1967, cả nước chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nên công việc đưa quân, tải đạn rất khẩn trương. Đường Trường Sơn phát triển nhiều đường xương cá, tạo ra nhiều nhánh rẽ xuống các tỉnh miền Trung. Một nhánh của Trường Sơn Đông đi qua huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi) xuống đồng bằng rồi vào phía bắc Bình Định. Để bảo đảm cho tuyến đường này thông suốt, ngày 16-6-1967, Trạm Quân bưu số 10 được thành lập, biên chế lúc đầu 7 chiến sĩ gái, do cô làm trạm trưởng. Trạm trực thuộc Phân đội 8, Đơn vị B20, Quân khu 5 .
 |
| Đường mòn 9 cô vẫn còn cho đến tận ngày nay. |
- Tên đơn vị là Trạm Quân bưu số 10, sao mọi người lại gọi là "Trạm 9 cô"? - Anh bạn đồng nghiệp của tôi hỏi vội vì không giấu được sự tò mò.
- Lúc đầu, khi mới thành lập, trạm chỉ có 7 người, gồm những nữ thanh niên xung phong của Liên đội Trà Bồng - Quảng Ngãi, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ và tính chất hoạt động ngày càng khó khăn, phức tạp nên được bổ sung thêm 2 người nữa. Kể từ đó cho đến ngày giải phóng, hễ trạm có ai bị thương, chuyển công tác thì Quân khu lại bổ sung cho đủ 9 cô. Cán bộ, chiến sĩ qua trạm biết đơn vị có 9 cô gái đang công tác nên cứ gọi là “Trạm 9 cô”, dần dà “Trạm 9 cô” trở thành cái tên thứ hai, nhưng thường gọi là Trạm Quân bưu số 10 - cô Ngà giải thích.
Mỗi người đi… 2 vòng Trái Đất
- Người ta bảo làm chiến sĩ quân bưu là chỉ có đi, đi và đi! Thế nhưng, đi bằng đôi chân không thì chẳng đủ. Cung đường giao liên do "Trạm 9 cô" đảm nhiệm là cung đường lửa. Từ vị trí đóng quân ở Làng Tà Ôn (nay là thôn Tà Vin, xã Sơn Màu, huyện Sơn Tây) đến 12 đầu mối đơn vị rồi xuống các tỉnh miền Trung - Nam Bộ, điểm gần nhất cũng phải mất 4 giờ đồng hồ đi bộ, còn dài hơn thì không thể tính chính xác được. Để đưa một công văn, các cô phải luồn rừng, băng suối, vượt dốc, tránh bom đạn, vượt lên bệnh tật... Bởi thế, các cô không chỉ đi bằng đôi chân, mà phải đi bằng ý chí, nghị lực, bằng trí thông minh.
|
Trong hơn 8 năm, 9 cô gái giao liên đã vận chuyển 97.200kg công văn, bưu kiện, tài liệu, thư tín (trung bình mỗi ngày vận chuyển 30kg); chạy hỏa tốc 9720 công văn; 12 lần chuyển đơn vị, làm được 96 doanh trại, 96 hầm trú ẩn cho cán bộ, thương binh ăn, nghỉ (mỗi lần chuyển làm được 8 doanh trại và hầm trú ẩn); mỗi người đi được hơn 87.600km trong hơn 8 năm (trung bình mỗi người đi 30km/ngày). 6 năm đầu các cô phải tự cấp, tự túc lương thực, thực phẩm cho đơn vị.
|
Ở núi rừng miền Tây Quảng Ngãi, đặc biệt là ở huyện Sơn Tây, có những đỉnh dốc, trai Hre khỏe mạnh mà đi cũng phải mất hơn 3 giờ đồng hồ mới lên được đỉnh núi. Còn sông Tang, sông Rin, sông Trà Manh, sông Nước Màu, Xà Lò… mùa nước lũ hung dữ chỉ cần nghe tên sông, người ta đã không dám nghĩ đến chuyện vượt qua. Có những cung đường nguy hiểm mà ngay cả những người lính dạn dày kinh nghiệm trong hành quân xa mang vác nặng cũng rợn người vì sự hùng vĩ và nguy hiểm của nó, như đường từ Sơn Mùa xuống Sơn Bao, Sơn Liên, Sơn Màu (Sơn Tây) rồi lên Sơn Dung (giáp Kon Tum), về Sơn Tinh (Sơn Hà)… Vậy mà với những người con gái chân yếu tay mềm như các cô đã từng đi đi, lại lại đến hàng trăm lần. Đến nay con đường các cô đi đã trở thành đường mòn mang tên "Trạm 9 cô".
Tôi hỏi cô Ngà:
- Đường giao liên vất vả và nguy hiểm như vậy, có khi nào các cô để chậm công văn không?
- Khẩu hiệu thường trực mà các cô thuộc làu làu lúc bấy giờ là "365 ngày không trễ 1 phút". Trong suốt 8 năm làm nhiệm vụ giao liên, chưa một lần các cô để mất, để chậm công văn - cô Ngà khảng khái.
Nói rồi, cô đưa chúng tôi xem mấy tấm hình của 9 cô thời còn ở trạm. Hồi đấy, các cô đang tuổi thanh xuân, đẹp và khỏe khoắn lắm. Giống như cô Ngà mô tả, lúc ấy "tuổi bẻ gãy sừng trâu" lại cộng thêm bầu nhiệt huyết đang sôi hừng hực trong tim nên mỗi lần lên đường đi làm nhiệm vụ, bước chân cứ nhẹ băng băng như lướt trên đường. Thậm chí, trọng lượng mang vác còn nặng hơn cả trọng lượng cơ thể, thế mà trên đường đi cứ gặp anh thương binh nào là cõng luôn cả anh thương binh ấy... Còn những khi trạm có công văn hỏa tốc, thì bất kể đêm hay ngày, đã ăn hay chưa ăn, đang ngủ hay chưa ngủ... đều phải nhận nhiệm vụ và đi ngay. Có những đêm, một người nhận liền 3 công văn hỏa tốc, đi ròng rã suốt đêm, đến khi hoàn thành nhiệm vụ thì trời cũng vừa sáng.
Kể đến đây, giọng cô Ngà bỗng trầm xuống. Cô nói như tự hỏi mình:
- Chẳng hiểu tại sao lúc ấy chúng tôi lại khỏe dữ vậy. Tính ra bình quân mỗi ngày mỗi người phải đi tới 16 giờ, tương đương 30km đường rừng, mà ròng rã suốt 8 năm trời. Ngẫm kỹ thì mỗi người phải đi bộ được một vòng Trái Đất chứ chẳng ít.
Tôi nhẩm tính mỗi ngày mỗi cô đi khoảng 30km thì 8 năm là 87.600km, mà một vòng Trái Đất có 40.077km, vậy là phải hơn 2 vòng Trái Đất, chứ không phải một vòng như cô Ngà tính. Một con số ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi.
Quyết tâm thép
Nhiệm vụ của "Trạm 9 cô" không chỉ nhận, giao công văn, tài liệu đến chiến trường mà còn bảo vệ, đưa đón cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, rồi đưa, đón thương binh, các cháu học sinh, con em cán bộ từ chiến trường miền Nam ra Bắc học tập, trong điều kiện thiếu thốn trăm bề, lại mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Cô Ngà kể:
- Lúc ấy, còn phải vừa lao động để ổn định nơi ăn, chốn ở, vừa hái lượm, canh tác bảo đảm lương thực, lại vừa làm nhiệm vụ chuyên môn nên khối lượng công việc nặng và khẩn trương lắm. Để hoàn thành nhiệm chúng tôi thường nắm tay nhau hô khẩu hiệu “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”.
 |
| Cô Ngà kể lại thời hoa lửa của "Trạm 9 cô". |
Đó là chưa kể, để giữ bí mật, "Trạm 9 cô" phải thay đổi vị trí đóng quân đến 6 lần, khi thì ở xã Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Tân (huyện Sơn Tây) khi thì vào Sơn Thượng (huyện Sơn Hà). Mỗi lần thay đổi địa điểm là mỗi lần phải bắt tay làm lại từ đầu.
Cô Ngà giải thích:
- Vì di dời liên tục như vậy nên “doanh trại” cũng chỉ dã chiến, tạm bợ. Chị em sống, làm việc trong những chiếc lán bằng tre, nứa; giường ngủ là 9 chiếc võng; quân trang mỗi người 2 bộ mặc quanh năm, rách thì vá, rách quá thì chắp hai bộ thành một bộ. Lúa, ngô, khoai, sắn trồng kịp thì thu hoạch, không kịp thì lại phải phá bỏ, xóa dấu vết để địch không phát hiện ra trạm.
Cũng theo lời cô Ngà, huyện Sơn Tây thời chiến tranh được gọi là "Khu 7", hầu như các cơ quan đầu não của Khu 5 và của tỉnh Quảng Ngãi đều đã từng đóng tại đây. Chính vì thế địch thường xuyên đánh phá, biến cả khu vực thành túi bom khổng lồ. Ranh giới giữa cái chết, cái sống rất mong manh và chỉ cách nhau trong khoảnh khắc.
Để phục vụ thương binh, các cô thực hành tiết kiệm, đặt ra chỉ tiêu “không đụng đến một hạt gạo của binh trạm” để dành lương thực cho thương binh.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, năm 1968 "Trạm 9 cô" đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, năm 1969 được Quân khu 5 trao cờ luân lưu trong toàn quân. Đó là những danh hiệu do Đảng và Nhà nước, Quân đội trao tặng, còn nhân dân địa phương thì ai cũng gọi các cô với cái tên “Trạm 9 cô anh hùng!".
-----------------
Kỳ 2: "Trạm 9 cô" ai nhớ, ai quên?
Bài và ảnh: Tấn Tuân - Minh Mạnh